Phuongcobain's Weblog

June 5, 2010

Into the Wild

Filed under: Life — phuongcobain @ 12:37 am

Bên cạnh Điện ảnh, chụp ảnh, ăn uống, đi du lịch khám phá những vùng đất mới chính là đam mê tột cùng của mình.

Nhưng chỉ khi ra nước ngoài mới gọi là đi du lịch, chứ mọi địa điểm trong nước chẳng có gì thu hút tôi. Chỉ khi đó, thực sự mình cảm thấy tự do, rũ bỏ mọi lo lâu, trách nhiệm của cuộc sống ở nhà.

Ước muốn tột cùng đó là đi đến những vùng đất huyền bí, không gian rộng lớn, hùng vĩ, khi trời đất giao nhau, khám phá những nền văn hóa khác. Mỗi bước chân là một bức ảnh, mỗi bức ảnh là một niềm đam mê.

Hành trình xuyên Châu Phi, Nam Mỹ…

Ôi, giấc mơ Tây Tạng

March 20, 2009

Những ngày tham dự LHP Rotterdam lần thứ 38

Filed under: Cinema,Life — phuongcobain @ 9:33 am
Tags:

rotterdam

 

Khi nhắc đến các Liên Hoan Phim được tổ chức thường niên hàng năm trên thế giới, khán giả hâm mộ môn nghệ thuật thứ bẩy thường nghĩ ngay tới 3 LHP lớn nhất là Berlin (tháng 2), Cannes (tháng 5), và Venice (tháng 9). Tiếp sau đó, mới là Sundance, Toronto, Montreal… Mỗi một LHP lại có ban giám khảo khác nhau, với những tiêu chí, chủ đề khác nhau, thậm chí tính nghệ thuật, thương mại cũng hoàn toàn khác nhau. Nếu như Cannes, Venice luôn hào nhoáng, là nơi hội tụ của vô số ngôi sao trên toàn thế giới, thì LHP Rotterdam của Hà Lan lại chú trọng vào những bộ phim độc lập, những tác phẩm điện ảnh mang nhiều tính thể nghiệm, nhiều tính sáng tạo mới.

 

LHP Rotterdam lần thứ 38 diễn ra từ ngày 21/1 đến ngày 1/2/2009, với sự tham gia của hàng trăm nhà làm phim (đạo diễn, sản xuất…), nhà báo, những người làm trong ngành điện ảnh, cùng hàng nghìn khán giả đến từ nhiều quốc gia khác nhau trên toàn thế giới. Trong 12 ngày diễn ra LHP, hàng trăm tác phẩm bao gồm phim truyện, phim tài liệu và phim phim ngắn đã được trình chiếu cho khán giả ở 5 cụm rạp tại trung tâm thành phố Rotterdam. Bên cạnh việc trình chiếu các tác phẩm điện ảnh thuần tuý, LHP Rotterdam còn có nhiều hoạt động khác nhau được tổ chức như triển lãm, hội thảo, giao lưu với đoàn làm phim, Cinemart (dành riêng cho 36 đạo diễn giới thiệu dự án của mình để tìm nguồn tài chính), Rotterdam LAP (khoá học ngắn hạn về sản xuất phim), khoá học về phê bình lý luận điện ảnh, kỷ niệm 20 năm quỹ HBF (tài trợ các dự án điện ảnh cho các nước đang phát triển).  

 

Năm nay, LHP Rotterdam được chia ra làm 3 hạng mục chính gồm Bright Future: dành riêng cho 14 tác phẩm đầu tay hoặc thứ hai của 14 đạo diễn (đây là hạng mục tranh giải VPRO Tiger Awards), Spectrum: dành cho những nhà làm phim đã có nhiều kinh nghiệm với các tác phẩm nổi bật trong năm (cả phim ngắn lẫn phim truyện dài), và Signals: chiếu phim theo 8 chủ đề khác nhau.

 

Tuy qui mô cũng như mức độ nổi tiếng không lớn bằng Cannes, cũng không lâu đời như Venice nhưng LHP Rotterdam 2009 qui tụ khá nhiều tác phẩm nổi đình đám trong năm 2008 như Il Divo (Jury Prize tại LHP Cannes 2008), Gomorra (Giải thưởng lớn tại LHP Cannes 2008) cùng của Ý, Slumdog Millionaire (4 giải Quả cầu vàng) do Anh – Mỹ hợp tác sản xuất, 24 City của đạo diễn Giả Chương Kha đến từ Trung Quốc, Rachel Getting Married (đề cử giải Sư tử vàng tại LHP Venice, đề cử giải Quả cầu vàng nữ diễn viên chính xuất sắc nhất cho Anne Hatthaway), Shirin của đạo diễn nổi tiếng người Iran Abbas Kiarostami, Even If You Walk and Walk của đạo diễn người Nhật Hirokazu Koreeda (từng thực hiện Nobody Knows, After Life), Tôkyô Sonate của Kiyoshi Kurosawa.

 

Cũng qua LHP Rotterdam, mà cụ thể ở đây là hạng mục VPRO Tiger Awards, nhiều thế hệ đạo diễn trẻ tài năng đã được phát hiện ra, về sau nay đều trở nên nổi tiếng. Có thể kể đến Christopher Nolan với The Following (đoạt giải VPRO Tiger Awards) hồi năm 1999, Hashigushi Ryosuke với Like Grains of Sand, Hong Sang Soo với The Day a Pig Into the Well, Lâu Diệp với Suzhu River…Khi các bạn đang cầm số báo này trên tay, LHP Rotterdam đã kết thúc với các giải thưởng quan trọng được trao: 3 giải Con hổ (VPRO Tiger Awards) thuộc về Be calm and count to seven (Iran), Breathless (Hàn Quốc) và Wrong Rosary (Thổ Nhĩ Kỳ), giải FIPRESCI của hiệp hội phê bình phim quốc tế được trao cho Blind pig who wants to fly của Indonesia.

 

Năm nay, Trăng Nơi Đáy Giếng là tác phẩm duy nhất đại diện cho Việt Nam tới tham dự LHP Rotterdam. Dựa trên truỵên ngắn cùng tên của nhà văn Trần Thuỳ Mai, Trăng Nơi Đáy Giếng được thực hiện bởi đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn, với sự tham gia diễn xuất của Hồng Ánh. Bộ phim sẽ được trình chiếu trong hạng mục Signals – Hungry Ghosts tại 5 phòng chiếu khác nhau. Hungry Ghosts – một trong 8 chủ đề của Signals, chủ yếu tập trung vào thể loại phim ma, hay có yếu tố tâm linh, và đều là các tác phẩm đến từ Đông Á. Cùng đua tài với Trăng Nơi Đáy Giếng còn có một số bộ phim kinh dị đáng chú ý khác như Art of Devil 3, The Coffin (đều của Thái Lan), Forbidden Door (Indonesia), Nightmare Detective 2 (Nhật Bản), The Pot (Hàn Quốc), Yes, I Can See Dead People (Hồng Kông), Rule #1 (Singapore) …

 

Trong suốt những ngày tham dự LHP Rotterdam, người viết luôn sống trong một môi trường Điện ảnh thực thụ. Thức dậy vào sáng sớm (tại Rotterdam vào thời gian này rất âm u và lạnh), để đi bộ tới các rạp chiếu phim. Điều thuận lợi là các hệ thống rạp như Cinerama, Pathé, Venster, Zaal de Unie có địa điểm khá gần nhau, chỉ mất khoảng 5 đến 10 phút đi bộ từ trụ sở chính của LHP tại De Doelen là tới nơi. Xem phim cả ngày (suất chiếu sớm nhất vào lúc 9h30) cho đến tận đêm khuya, đan xen là những cuộc trò chuyện, gặp mặt đoàn làm phim, hay các cuộc triển lãm nghệ thuật. Đặc biệt cứ vào 18h hàng ngày, chương trình talkshow có tên gọi Headquarters được diễn ra tại De Rotterdamse Schouwburg. Nhiều chủ đề về chương trình phim đã được đưa ra bàn luận như Điện ảnh trẻ của Thổ Nhĩ Kỳ, Hungry Ghosts, phim đầu tay của các đạo diễn nổi tiếng.

 

Trụ sở chính của LHP được đóng tại De Doelen với bốn tầng luôn náo nhiệt ồn ào. Nếu như tầng 3 là quán Bar, nơi tổ chức tiệc đêm, tầng 4 là khu dành riêng cho văn phòng, bàn tiếp tân đón nhà báo, khách mời, và là nơi nơi phỏng vấn, thì tầng 1 luôn chật cứng những người yêu điện ảnh. Khán giả xếp hàng dài dằng dặc để đăng ký nhận vé xem những buổi chiếu phim công cộng. Poster phim, tờ chương trình, báo ngày, tờ giới thiệu được bầy ở mọi nơi và phát hoàn toàn miễn phí. Người xem có thể dễ dàng cập nhật những sự kiện diễn ra trong ngày, lịch chiếu tại tất cả các rạp. Khán giả tới tham dự LHP đều là những người yêu thích điện ảnh thực sự, họ không bao giờ bỏ phí một tấm vé đã đăng ký, và ngồi đến tận phút cuối cùng cho dù không phải bộ phim nào cũng dễ xem. Hệ thống rạp Pathé, nơi dành cho chiếu công cộng, với 7 phòng chiếu lớn nhỏ luôn chật cứng khán giả. Tại một số rạp khác như Cinerama, Venster, Doelen ban tổ chức bố trí các phòng chiếu riêng cho nhà báo và khách mời đặc biệt.

 

Do chương trình chiếu phim tại LHP Rotterdam có rất nhiều hạng mục, nhiều chủ đề khác nhau nên người viết không có điều kiện để thưởng thức đầy đủ các bộ phim tham dự. Tác phẩm đầu tiên mà tôi được xem là Pandora’s Box (hạng mục Điện ảnh trẻ Thổ Nhĩ Kỳ). Bộ phim được xây dựng khá chân thật và xúc động về cuộc sống của một gia đình Thổ Nhĩ Kỳ thời hiện đại. Sau khi biết tin người mẹ mất tích trong rừng sâu, ba người con Nesrin, Mehmet và Guzin trở lại quê cũ để nhờ người giúp đỡ. Do cụ Nusret bị mắc bệnh Alzheimer (thoái hoá não) nên họ quyết định đưa bà lên Istanbul sinh sống.. Mỗi người con lại có một hoàn cảnh gia đình khác nhau, lối sinh hoạt khác nhau nên việc trông nom một người mất trí nhớ như cụ Nurset là điều không tưởng. Khi mọi việc đang đi vào bế tắc, thậm chí dẫn đến khủng hoảng gia đình thì người cháu trai Murat lại tìm được sự hoà hợp với bà ngoại. Cậu tìm thấy niềm vui trong việc chăm sóc bà, điều mà những người lớn bấy lâu nay không làm được.

 

Trong khi Pandora’s Box để lại cho khán giả nhiều cảm xúc với những tình huống đời thường về gia đình thì Trăng nơi đáy giếng của đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn lại gây ấn tượng mạnh qua phần quay phim. Bối cảnh ít nhưng được xây dựng cầu kỳ, nội dung không quá phức tạp nhưng những yếu tố tâm linh trong kịch bản lại khiến người xem khó quên, nhân vật không nhiều nhưng tính cách được khai thác sâu. Mặc dù cá nhân tôi không thích Trăng nơi đáy giếng, nhưng cũng không thể phủ nhận phần quay phim (đạo diễn hình ảnh Trinh Hoan) được thực hiện rất tốt. Camera luôn giữ một khoảng cách với nhân vật Hạnh (Hồng Ánh), cộng với nhịp phim đều đều, chậm rãi khiến cho Trăng nơi đáy giếng có một “chất” rất riêng biệt. Hi vọng trong thời gian tới, bộ phim sẽ được phát hành rộng rãi tại các hệ thống rạp trên khắp toàn quốc. Cho dù bạn có thích hay không thích nội dung phim, nhưng có một điều chắc chắn rằng Trăng nơi đáy giếng sẽ để lại trong lòng khán giả sự vương vấn khó tả, một cảm xúc rất riêng, như chính những con người xứ Huế trong phim vậy.

 

Ngoài Pandora’s Box và Trăng nơi đáy giếng, tôi còn có cơ hội thưởng thức Il Divo của Italy (hạng mục Spectrum), Schattenwelt của Đức (Spectrum), El Árbol của Maxico (Bright Future), Susuk của Malaysia, Liverpool của Tây Ban Nha, Rule #1 của Singapore, À l’ouest de Pluton của Pháp… cùng các buổi chiếu phim ngắn khác.

 

Cho dù nhiệt độ ngoài trời có lúc xuống tới 2,3 độ C, mưa liên tục từ sáng tới đêm, nhưng những ngày tham dự LHP Rotterdam là khoảng thời gian đặc biệt trong tôi. Tôi sẽ nhớ mãi buổi tối lạnh cóng đứng một mình tại cửa rạp Venster, nhâm nhi cốc bia Heineken đặc trưng hương vị Hà Lan.

September 12, 2008

Đong hàng

Filed under: Life — phuongcobain @ 10:22 pm
Tags: , ,

Đã từ lâu rồi, đong hàng đã là một thói quen ăn vào máu, mỗi tuần các con nghiện luôn  phải đi đong từ một đến hai lần thì mới chịu được, mới thoả mãn cơn thèm khát. Nếu không, mình mẩy sẽ rất bứt rứt, tâm thần bấn loạn, lòng bồn chồn không yên. Mặc dù không phải lần nào đi, cũng có thể đong được dù chỉ một con hàng. Nó giống như một thứ thuốc gây nghiện vậy, cứ lên cơn là phải hít hay chích thôi. 

Trước tiên phải định nghĩa Đong hàng ở đây là gì. Nếu phân tích rạch ròi ra thì Đong ở đây là đi mua (ngắm nghía, xem), còn hàng ở đây là băng đĩa phim (nhạc). Nói tóm lại đong hàng là đi mua đĩa phim, hoặc đi ngắm đĩa phim thôi cũng được. 

Mặc dù tuổi đời của từ Đong hàng còn khá nhỏ, mới chỉ xuất hiện chính thức lần đầu tiên trên MFC – mạng TTVNOL cách đây khoảng 4 năm, từ những thành viên cốt cán tâm huyết như Rena, Gacoi, Giao_Hoang, Blue_love_red, lamthanh_hn và tất nhiên có cả Sean (phuongcobain), (đây là những người rất hay tụ tập đi mua đĩa với nhau trước kia). Và động từ này đã được truyền lại cho thế hệ nhiều thành viên sau này, thậm chí còn được lên cả báo. Nó cũng tương tự như là từ 8X bắt nguồn từ 7X trên mạng TTVN trước đây, mặc dù về độ nổi tiếng cũng như phổ biến thì không bằng, nhưng lại là câu cửa miệng của những con nghiền phim. 

Để thu hẹp lại phạm vi thì trong bài viết linh tinh này, từ đong hàng chỉ mang ý nghĩa đi mua phim thôi, chứ thuê hay đĩa nhạc thì không tính tới, vì hơi rộng. Dù từ đong hàng mới có khoảng 4 tuổi, nhưng nếu kể lại lịch sử lịch sử đong hàng của tui thì có lẽ bắt đầu từ năm 1996, cũng hơi dài dòng, khi đó còn đang học lớp 10. Vào thời điểm đó rất nhiên ở nước ta không thể nào có VCD, hay DVD để mà xem được. Hồi đấy Fafilm Việt Nam phát hành phim Video gia đình dưới dạng băng VHS với giá 35K / 1 băng, một cái giá cũng khá khá đắt vào thời đó. Còn nhớ, bộ phim đầu tiên mà mình mua cùng bố là một tác phẩm hành động của Steven Seagal với tựa đề … đã quên rồi (!!!). Tuy nhiên sau khi tui xem xong, thấy chán quá, nên quyết định đi đổi lấy bộ phim thuộc thể loại Western: Blind Justice (tựa tiếng việt: Công lý người mù). Như vậy là với 35K, xem được hai phim mà vẫn giữ lại được một băng, hehe. 

Dần dần, cứ khi nào có tiền là tui lại đi mua phim về xem, bên cạnh việc thuê ở những cửa hàng cho thuê băng, cho dù là những ngày hè nóng nực hay trong mùa đông lạnh giá vẫn cứ đạp xe lên Hàng Bài để đong hàng. Những bộ phim từ thời còn học trung học đã sưu tập được cũng kha khá với Congo (tác giả kịch bản là Michael Crichton, ông đã viết Jurassic Park, The 13th Warrior), Forrest Gump (phim này có 2 băng lận), Speed (hồi nhỏ tui xem phim, này phê thế không biết, và thích luôn anh Keanu), Terminator 2: Judgement Day (xem sợ và ấn tượng ghê), Batman Trilogy (vẫn khoái 3 tập đầu nhất), Bẩy tay súng oai hùng (phim này dựa trên The Seven Samurai của Akira Kurosawa), The Last Mohican, Cliffhanger – Cheo leo vách núi (phim của anh Stalone), Tango & Cash, Water World của chú Kevin Costner… và một đống các tập phim của Chaplie Chaplin nữa. Nói chung là xem rất nhiều phim, và giữ một đống các băng phim hổ lốn. Hiện nay, những cuộn băng này mốc meo hết rồi. Mặc dù bây giờ là thời của của DVD, HD-DVD, nhưng đối với tui, những cuộn băng VHS này vẫn có những giá trị riêng của nó, vì nó chưa đựng khá nhiều kỷ niệm về một thời mua băng về xem và nâng niu như nâng trứng. Còn nhớ hồi trước nếu như cuốn băng nào bị mốc một tí thôi là lại lấy cái tua băng ra quay quay một hồi cho hết mốc. Sau đó lại xếp thành mấy hàng trên tủ và há hốc mồm ngồi ngắm say sưa, hehe. 

Đến khoảng những năm 2000, thì kỷ nguyên của băng phim truyện VHS đã dần lụi tàn, phim trên băng từ kiểu này cho đến nay vẫn còn tồn tại thông qua những bộ phim Video gia đình mà thôi. Fafilm VN bắt dầu chuyển sang lưu trữ và bán dưới dạng băng VCD. Bắt đầu từ đây, một làn sóng phim phụ đề VCD bắt đầu tràn ngập thị trường với cái gia cũng khá cắt cổ, ban đầu là 35K/1 phim 2 đĩa. Rồi dần dần, sau này hạ xuống chỉ còn 30K, 20K, rồi 18K. Chất lượng VCD tất nhiên là không cao, nhiều cái còn xước, vỡ hình lung tung, nhưng được cái rất tiện lợi, có thể xem được trên tivi lẫn trên máy tính. Còn nhớ, thời những năm 2001, 2002 là thời kỳ mê đắm trong đống đĩa VCD. Rất nhiều phim kinh điển được mua về để ngâm cứu. Một lô một lốc các tác phẩm của Alfred Hitchcock, Lawrence of Arabia, The Good the bad and the Ugly, The Bridge on the river Kwai, Gun of Narvarone, The Wild Bunch, Some like it hot, Gandhi, The Last Emperor… Hồi đấy cửa hàng VCD mà tui hay mua nằm trên phố Tràng Tiền nằm chếch với L’espace, tiền thân của cửa hàng 12 Hai Bà Trưng hiện nay. Đĩa được bầy khiêm tốn trên 2 giá treo trên tường, mặc dù không phải là nhiều so với đĩa DVD như hồi bây giờ, nhưng cũng đủ làm ngợp mắt với những con nghiền phim. Vì phố Tràng Tiền không có chỗ để xe cho cái cửa hàng này, nếu muốn gửi thì phải lên tận trên ngõ đối diện hàng kem. Nên mỗi lần mua lại dắt cả cái xe vào cửa hàng, nên khá chật và vướng víu. 

Thị trường phim ảnh thời điểm này cũng bắt đầu khá phong phú, nhưng tại cửa hàng trên phố Tràng Tiền không đa dạng và không nhiều phim độc bằng những cửa hàng cho thuê băng đĩa bình dân khác. Chính vì vậy để thoả cơn thèm khát hàng, tất nhiên phải đi thuê phim về xem, 3K/1 phim/1 ngày. Không quá đắt cho một phim, nhưng lại đắt nếu ngày nào cũng đi thuê. Cứ nhân lên, nếu trung bình một ngày 2 phim thì sẽ là 6K, một tuần 42K, một tháng sẽ là khoảng 160 tiền thuê phim, hic hic. Còn nhớ hồi đấy cửa hàng cho thuê đĩa tại 58 Bà Triệu, giờ biến thành cửa hàng Fashion for Men gì đấy, có khá nhiều phim được đóng thành khoảng 7,8 catalogue dầy cộp. Tui thuê đĩa ở đây quen mặt đến nỗi mà cái chị bán hàng beo béo ở đấy rất ưu tiên khi có phim mới. Có lần dấm dúi vào tay cho mình cái đĩa mới nhập về, mà không cho một khách hàng nào khác thuê trước. Nghĩ lại thấy cũng hay hay, hehe, toàn được ưu tiên xem trước. Ớ, nhưng càng ngày càng nói về thuê đĩa mà quên mất việc đong hàng. 

Việc đong hàng vào thời điểm này có cái thú là khi vớ được phim độc là vui cả buổi, và tất nhiên là đến ngắm đĩa bầy trên giá nữa. Thời gian về sau này, bắt đầu quen với thằng Xixo (chubemephim), thì tình hình buôn chuyện phim ảnh càng máu hơn. Hai thằng tính hợp nhau về điện ảnh, đặc biệt là các phim hoành tráng, bắn nhau ì xèo như Saving Private Ryan. Trong khi tui vẫn mua đĩa VCD về nhà để xem, và cũng để sưu tập luôn, thì thằng Xixo lại thích thuê băng VHS về. VHS thì nét hơn, như không tiện dụng như VCD, mà âm thanh thì khá là tệ, vì bị sao sang vài lần. Thi thoảng thằng Xixo còn mang cả băng VHS đến nhà tui xem, trong khi mình vẫn đang ngủ. Hai thằng cũng hay tà lượn bằng xe đạp ra Tràng Tiền để ngắm hàng, và cũng để buôn chuyện với nhau. Cứ nhìn thấy phim nào xem rồi là bắt đầu bàn tán xôn xao, buôn chuyện về tác phẩm đấy rất ác. Thằng Xixo và tôi hồi đấy đều không có đầu DVD, trong khi tôi thì vẫn mua VCD đều đều về xem, thì xixo lại rất máu trong khoản đong các em DVD. Nhớ cái hôm 2 thằng ra phố Hàng Bè để thằng Xixo mua mấy cái DVD về nhà, trong đó có Saving và Gladiator, chỉ để ngắm thôi, vì không có đầu đọc.

Vào thời điểm năm 2003, DVD đã bắt đầu phổ biến khá rộng rãi rồi, nhưng vẫn còn chát với giá 25K/1 đĩa. MFC rục rịch làm thư viện phim với chất liệu là đĩa VCD, vì giá thành làm DVD thì quá đắt, mà DIV-X hồi đấy chưa phổ biến mà không phải ai cũng có điều kiện để sưu tập được. Bản thân tui cũng góp khá khá các tác phẩm kinh điển để mang ra sao lưu làm thư viện. Hiện nay đĩa thì vẫn còn, nhưng thư viện thì đã chết ngóm. Về sau này, thư viện DVD của MFC cũng được hình thành, nhưng cũng chẳng tồn tại được lâu, nói gì đến thư viện VCD. 

Hiện nay DVD vẫn là chuẩn trong các loại hình lưu trữ phim giải trí gia đình. Cửa hàng DVD giờ đây mọc lên rất nhiều đủ để bạn có thể lựa chọn. Nhưng vào khoảng năm 2003, cửa hàng nổi tiếng nhất vẫn là CD 5 Đinh Liệt, Fox 5 Bảo Khánh (cửa hàng này bỏ qua, không nói đến vì toàn bán đĩa lòng tím, loại Somei 3K/1 đĩa trắng) với vô số đầu phim được xếp thành hàng chục rổ. Tha hồ cho các con nghiện phim lục lọi. Bạn có thể mất cả tiếng đồng hồ chỉ để bới tìm phim. Có một cái thú trong việc đong hàng thời gian cách đây 4 năm là khi đó, khán giả VN mới được tiếp cận được nguồn phim phong phú, nên nhiều khi rất mừng nếu như tìm được một phim mà được đánh giá là nổi tiếng, kinh điển, và độc đáo. Nếu bạn đi mua đĩa mà ghi sẵn ra một mảnh giấy những bộ phim mình cần mua rồi đưa cho mấy em bán hàng thì sẽ không thể có được cái cảm giác vui mừng, bồn chồn khó tả khi bạn tự lục tìm phim. Việc ghi sẵn ra thế không được coi là đong hàng, vì vô hình chung chúng ta đã vô tình tự thu hẹp tầm hiểu biết của mình lại, và không biết được cửa hàng có những tác phẩm nào được bầy bán. Cái thú của việc đong hàng giống như trời nóng nực được uống một vại bia mát lạnh, giống như một cầu thủ ghi được bàn thắng, giống như ta tự khám phá ra một bài toán khó vậy. Cảm giác đó có đuợc khi ta lục lọi trong đống hổ lốn một bộ phim hay, được đánh giá là kinh điển, đoạt nhiều giải thưởng. Đó là cảm giác của tui có được khi cách đây đã 4, 5 năm trước, khi phim ảnh chưa ê hề như bây giờ. 

Ngoài CD 5 Đinh Liệt là một đại gia đĩa DVD phim thời bấy giờ, cũng phải nhắc đến các cửa hàng trong ngõ Nguyễn Khắc Cần (trước ở trên phố Tràng Tiền, sau chuyển sang 12 Hai Bà Trưng), cửa hàng 300 lẻ mấy trên Phố Huế, mấy cửa hàng trong trợ trời. Tôi đặc biệt không khoái vào mấy cửa hàng trên phố Huế, vì trên đấy làm ăn bát nháo, chủ có thể chửi khách thôi rồi, và khó có thể đổi nếu đĩa chẳng may không xem được ở nhà. 

Giá của đĩa DVD thì luôn biến chuyển, từ 25K, dần dần tụt xuống cho đến nay fix lại với giá 17K loại DVD5 bình thường của Tầu, 16K với loại phụ đề TV của Việt Nam, 25 đến 35K với loại DVD9. Hay 20 đến 30$ nếu mua ở nước ngoài, đặc biệt hơn là có khi lên tới 70 đến 120$ đối với những bộ Special Edtion. Bộ đĩa Collection mà tui thích và quí nhất là bộ The Lord of the Rings với 12 đĩa, bản uncut của đạo diễn, với đầy đủ features, making of mua được ở bên Thái Lan. Bây giờ còn có thêm cả định dạng HD và Blue ray, tuy nhiên chưa thực sự phổ biến lắm. Nhưng có lẽ trong tương lai, định dạng mới này sẽ là loại hình phổ biến nhất, và có thể làm cho DVD lụi tàn như đối với VHS hay VCD xưa kia. 

Một cái thú trong khi đong hàng nữa là trong khi tay thì lục phim, mắt thì ngắm bìa đĩa, nhưng tai thì vẫn cứ dỏng lên mà nghe chuyện xung quanh. Nghe xem những khách hàng khác họ bình phẩm về một phim mà họ xem rồi, nghe những thứ họ nói chuyện với nhau về phim anh, nghe về họ í ới hỏi nhau, hỏi các em bán hàng, và thi thoảng còn liếc lén sang bên xem họ mua phim gì. Đôi khi trong khi đong hàng, tui rất hay gặp người quen. Đặc biệt trước kia khi CD 5 Đinh Liệt vẫn là nơi hội tụ của các con nghiền phim thì việc gặp người quen xẩy ra như cơm bữa. Trước đây tui hay gặp anh lamthanh, gặp Vinhattieu, thi thoảng là Rena, chú Tuấn bên báo Thế giới điện ảnh, hay anh Lâm báo Đàn Ông (tui đặc biệt rất thích đọc các bài viết của anh, câu văn tiết chế, nhưng đầy đủ ý, thông tin, và cái chính là trình độ thể hiện trong mỗi bài viết). 

Đi đong hàng một mình có cái hay riêng, nhưng đi đong hàng có thêm nhiều người sẽ vui hơn, hào hứng hơn, vì khi đó ta có nhiều tri kỉ để buôn chuyện. Hồi trước có thằng Xixo là bầu bạn, nhưng giờ nó đã vào Nam. Hội MFC trước kia có anh Giao_hoang, anh lamthanh, Sskkb, anh Zazu, Rena, Blue_love_red. Hội MB, Yxine có Red_violin, anh Neo (phanxine) ở trong HCM, nhưng hai người này thì đi nước ngoài hết rồi, thi thoảng Light và Harry, Vanity cũng ra, về Hà Nội, tuy nhiên đi đong hàng thì hơi ít :D. Về sau này, khi hội BMA thành lập thì tui hay đi với Gacoi, Vinhattieu, Hisashi, thi thoảng là Youtamoutechi, Daniel. Đi thế này, buôn chuyện thì nhiều mà mua phim thì lại hơi ít,hehe. Nhưng đi đông để mà buôn chuyện phim ảnh mới là điều thú vị nhất, mình gặp được những người cùng sở thích, nói chuyện phim ảnh, Soundtrack mà không thấy nhạt miệng. Không biết các thành viên trong hội BMA thế nào chứ, nhưng trong đầu tui luôn có một lịch trình khá là hoàn hảo: 3h họp MFC, sau đó cùng đi đong hàng, tiếp theo là nhậu tại 19 Hoàng Diệu, sân đội Thể Công, cuối cùng là lên Megastar xem phim. Viết đến đây tự dưng đói quá, nhớ lại cái hồi 4 thằng (gacoi, hisashi, rena) chiều chiều lại đi nhậu rồi đong hàng diễn ra vào hè năm ngoái. Thằng Hisashi thì uống không nhiều, nhưng được cái nhiệt tình và buôn chuyện ác liệt, thằng Rena thì bị đau dạ dầy nên cũng chỉ được 2 vại là max, mình thì cũng khoảng 3 cốc thôi, còn lại là thằng gacoi chiến máu nhất. Nói linh tinh một hồi lại nhẩy sang chuyện nhậu nhẹt khi xưa. Bây giờ thì bạn Sean bị đau bụng nên không uống đựơc bia hơi nữa, nhưng bia chai thì vô tư đê >: ). Cạn vốn, nghỉ tí đã, mai viết tiếp.

Blog at WordPress.com.