Phuongcobain's Weblog

March 19, 2009

Les Cahiers du Cinema – Top 100 Films

Filed under: Cinema — phuongcobain @ 1:44 pm

Mới đây, tạp chí về điện ảnh nổi tiếng của Pháp – Les Cahiers du Cinema đã bầu chọn ra Top 100 phim hay nhất qua mọi thời đại. Nhưng không hiểu có phải người Pháp ghét người Anh hay không mà trong Top 100 chẳng có lấy một phim UK. Rất nhiều tác phẩm nổi tiếng như The Third Man, Black Narcissus, Brief Encounter, Lawrence of Arabia, Monty Python and the Holy Grail, Pygmalion, The Fallen Idol… đều không có mặt.

 

citizen-kane-poster-c10047715Cũng giống như cuộc bình chọn do AFI tổ chức, Citizen Kane vẫn là “thí sinh” về nhất. Điều này không ai có thể phủ nhận. Khi Citizen Kane hoàn thành vào năm 1941, Orson Welles mới hơn 26 tuổi. Khá bất ngờ khi The Night of the Hunter của đạo diễn / diễn viên Charles Laughton về thứ hai (đây là bộ phim duy nhất mà ông làm đạo diễn trong suốt cả sự nghiệp). Sunrise, tác phẩm mà tôi rất thích đứng ở vị trí thứ 4.

 

Lọt vào trong Top 10 có đến 5 phim của người Mỹ, 3 phim của người Pháp, 2 phim của người Đức. Không có phim nào của Ý, Nga, Tây Ban Nha, Nhật. Chỉ có 2 tác phẩm sản xuất trong thế kỷ 21 được Les Cahiers du Cinema chọn vào Top 100 là Talk to her (2003) và Mullholand Drive (2001), nhưng đều xếp gần cuối bảng.

 

Điều đáng chú ý khác đó là hàng loạt bộ phim thuộc trào lưu Làn sóng mới trong thập niên 60, 70 của những tên tuổi như Jean Luc Godard, Francois Truffaut, Louis Malle… đều xếp khá thấp, cho dù họ đều là những cây viết, nhưng cộng tác viên nhiệt tình cho tạp chí Cahiers du Cinema thời kỳ đầu. Chỉ duy nhất Contemp của Jean Luc Godard là “leo” lên được vị trí thứ 15. Tiếp sau đó là Hiroshima, Mon Amour của Alain Resnais xếp thứ 26.

 

1. Citizen Kane – Orson Welles

2. The Night of the Hunter – Charles Laughton

3. The Rules of the Game (La Règle du jeu) – Jean Renoir

4. Sunrise: A Song of Two Humans (L’Aurore) – Friedrich Wilhelm Murnau

5. L’Atalante – Jean Vigo

6. M – Fritz Lang

7. Singin’ in the Rain – Stanley Donen & Gene Kelly

8. Vertigo – Alfred Hitchcock

9. Children of Paradise (Les Enfants du Paradis) – Marcel Carné

10. The Searchers – John Ford

11. Greed – Erich von Stroheim

12. Rio Bravo – Howard Hawkes

13. To Be or Not to Be – Ernst Lubitsch

14. Tokyo Story – Yasujiro Ozu

15. Contempt (Le Mépris) – Jean-Luc Godard

16. Tales of Ugetsu (Ugetsu monogatari) – Kenji Mizoguchi

17. City Lights – Charlie Chaplin

18. The General – Buster Keaton

19. Nosferatu the Vampire – Friedrich Wilhelm Murnau

20. The Music Room – Satyajit Ray

21. Freaks – Tod Browning

22. Johnny Guitar – Nicholas Ray

23. The Mother and the Whore (La Maman et la Putain) – Jean Eustache

24. The Great Dictator – Charlie Chaplin

25. The Leopard (Le Guépard) – Luchino Visconti

26. Hiroshima, My Love – Alain Resnais

27. The Box of Pandora (Loulou) – Georg Wilhelm Pabst

28. North by Northwest – Alfred Hitchcock

29. Pickpocket – Robert Bresson

30. Golden Helmet (Casque d’or) – Jacques Becker

31. The Barefoot Contessa – Joseph Mankiewitz

32. Moonfleet – Fritz Lang

33. Diamond Earrings (Madame de…) – Max Ophüls

34. Pleasure – Max Ophüls

35. The Deer Hunter – Michael Cimino

36. The Adventure – Michelangelo Antonioni

37. Battleship Potemkin – Sergei M. Eisenstein

38. Notorious – Alfred Hitchcock

39. Ivan the Terrible – Sergei M. Eisenstein

40. The Godfather – Francis Ford Coppola

41. Touch of Evil – Orson Welles

42. The Wind – Victor Sjöström

43. 2001: A Space Odyssey – Stanley Kubrick

44. Fanny and Alexander – Ingmar Bergman

45. The Crowd – King Vidor

46. 8 1/2 – Federico Fellini

47. La Jetée – Chris Marker

48. Pierrot le Fou – Jean-Luc Godard

49. Confessions of a Cheat (Le Roman d’un tricheur) – Sacha Guitry

50. Amarcord – Federico Fellini

51. Beauty and the Beast (La Belle et la Bête) – Jean Cocteau

52. Some Like It Hot – Billy Wilder

53. Some Came Running – Vincente Minnelli

54. Gertrud – Carl Theodor Dreyer

55. King Kong – Ernst Shoedsack & Merian J. Cooper

56. Laura – Otto Preminger

57. The Seven Samurai – Akira Kurosawa

58. The 400 Blows – François Truffaut

59. La Dolce Vita – Federico Fellini

60. The Dead – John Huston

61. Trouble in Paradise – Ernst Lubitsch

62. It’s a Wonderful Life – Frank Capra

63. Monsieur Verdoux – Charlie Chaplin

64. The Passion of Joan of Arc – Carl Theodor Dreyer

65. À bout de souffle – Jean-Luc Godard

66. Apocalypse Now – Francis Ford Coppola

67. Barry Lyndon – Stanley Kubrick

68. La Grande Illusion – Jean Renoir

69. Intolerance – David Wark Griffith

70. A Day in the Country (Partie de campagne) – Jean Renoir

71. Playtime – Jacques Tati

72. Rome, Open City – Roberto Rossellini

73. Livia (Senso) – Luchino Visconti

74. Modern Times – Charlie Chaplin

75. Van Gogh – Maurice Pialat

76. An Affair to Remember – Leo McCarey

77. Andrei Rublev – Andrei Tarkovsky

78. The Scarlet Empress – Joseph von Sternberg

79. Sansho the Bailiff – Kenji Mizoguchi

80. Talk to Her – Pedro Almodóvar

81. The Party – Blake Edwards

82. Tabu – Friedrich Wilhelm Murnau

83. The Bandwagon – Vincente Minnelli

84. A Star Is Born – George Cukor

85. Mr. Hulot’s Holiday – Jacques Tati

86. America, America – Elia Kazan

87. El – Luis Buñuel

88. Kiss Me Deadly – Robert Aldrich

89. Once Upon a Time in America – Sergio Leone

90. Daybreak (Le Jour se lève) – Marcel Carné

91. Letter from an Unknown Woman – Max Ophüls

92. Lola – Jacques Demy

93. Manhattan – Woody Allen

94. Mulholland Dr. – David Lynch

95. My Night at Maud’s (Ma nuit chez Maud) – Eric Rohmer

96. Night and Fog (Nuit et Brouillard) – Alain Resnais

97. The Gold Rush – Charlie Chaplin

98. Scarface – Howard Hawks

99. Bicycle Thieves – Vittorio de Sica

100. Napoléon – Abel Gance

Advertisements

Sự giãy chết của thể loại phim thảm hoạ

Filed under: Cinema — phuongcobain @ 1:40 pm

Đã từ rất lâu rồi, phim về thảm hoạ (Disaster movies) không còn làm mưa làm gió tại các phòng chiếu, chúng không còn là một “hiện tượng” để báo chí tốn nhiều giấy mực viết về nó, và cũng không còn là điều gì mới mẻ đối với khán giả nghiền phim. Những tưởng vào giữa năm 2006, với sự xuất hiện của Poseidon, nhiều người đã hi vọng rằng một lần nữa báo chí, cùng các khán giả mộ điệu sẽ phải nhắc đến thể loại phim tưởng chừng như đã không còn chỗ đứng này. Người làm sống lại thể loại phim thảm hoạ chính là đạo diễn lừng danh Wolfgang Petersen, ông vua của các bộ phim về đại dương với Das Boot (1981), và The Perfect Storm (1999). Nhưng đó dường như chỉ là một đốm lửa nhỏ chợt bùng lên lần cuối cùng rồi tắt ngấm.

 

the-day-after-tomorrow-2

 

Phim thảo hoạ

Disaster movies là thể loại phim có nội dung đề cập đến những thảm hoạ diễn ra trên trái đất tác động trực tiếp đến con người theo nhiều cách khác nhau. Nhưng tựu chung lại, chúng chỉ gồm vài đề tài quen thuộc như: thảm hoạ do thiên nhiên gây ra (tiêu biểu là các tác phẩm The Day after tomorrow, The Core, Dante’s Peak, Volcano), thảm hoạ do thiên thạch hoặc người hành tinh tấn công trái đất (Armageddon, Deep Impact, Independence Day, War of the Worlds), và cuối cùng là sự tồn tại của con người trước thảm hoạ (Titanic, The Towering Inferno, Poseidon). Đặc điểm chung của thể loại phim này là có rất nhiều người dân thường… bị chết, hoặc nhân vật phải hi sinh tính mạng.

 

Ở thể loại thứ ba, những nhà làm phim không quá chú trọng vào các kỹ xảo, & hiệu ứng đặc biệt để hấp dẫn khán giả mà tập trung nhiều hơn vào sự sinh tồn của các nhân vật trong phim, đây có thể coi là thể loại phim sinh tồn. Poseidon cũng không phải là một ngoại lệ. Vào cái đêm chuyển giao sang năm mới, con tầu khổng lồ mang tên Poseidon, với đầy đủ tiện nghi và trang thiết bị phục vụ hiện đại nhất đã bị một con sóng thần đánh lật úp. Hầu hết hành khách trên tầu đều bị tử nạn ngay sau đó, chỉ còn lại một vài người may mắn sống sót. Họ phải cố gắng tìm cách thoát khỏi con tầu trước khi nó bị chìm hoàn toàn xuống đại dương. Và tất nhiên, từng người trong số họ sẽ bị chết trong những tình huống nghẹt thở. Chủ đề xuyên suốt của bộ phim không có gì mới, hay nói đúng ra là quá cũ kỹ, khi đạo diễn tập trung vào khai thác số phận của từng con người trên chiếc tầu khổng lồ đó. Khán giả sẽ chẳng có gì ngạc nhiên khi lần lượt các nhân vật một sẽ bị đưa ra làm nạn nhân trong những tình huống căng thẳng đến tột cùng. Nhưng Poseidon vẫn hấp dẫn với những đối tượng khán giả thích thể loại phim hồi hộp từ đầu tới cuối mà không phải suy nghĩ quá nhiều. Đa số các tạp chí về điện ảnh uy tín trên thế giới vẫn chấm Poseidon điểm khá. Tuy nhiên doanh thu của tác phẩm này cho đến nay cũng chỉ lẹt đẹt đạt mức 61 triệu $ tại thị trường Mỹ (trong khi số vốn ban đầu bỏ ra là 160 triệu $). Cùng đề tài này trước đó còn có Titanic (1997) và The Towering Inferno (1974) với xuất sự của dàn diễn viên rất nổi tiếng thời đó gồm: Paul Newman, Steve McQueen, Faye Dunaway. Chính sự thành công của bộ phim này (với 3 giải Oscar vào năm 1975) đã làm nở rộ lên làn sóng làm phim về thảm hoạ những năm 70 của thế kỷ trước.

 

Sự bùng nổ của thể loại phim thảm hoạ

Vào cuối thập kỷ 90, các nhà làm phim tại Holywood lại đua nhau cho ra đời những tác phẩm có đề tài thảm hoạ. Đây có thể coi là “đợt sóng” rầm rộ thứ 2 sau làn sóng của thể loại phim thảm hoạ lần đầu tiên bủng nổ vào cuối thập niên 70. Riêng về núi lửa đã có liền hai tác phẩm đuợc trình chiếu trong vòng một năm là Dante’s PeakVolcano (1997). Trí tưởng tượng của các biên kịch gia đã đi rất xa khi cho núi lửa phun trào ngay giữa lòng thành phố Los Angeles (phim Volcano). Để đáp ứng được trí tưởng tượng đó thì công nghệ về kỹ xảo điện ảnh cũng đã có những bước tiến rất dài. So với 9 năm trước đây, khi nham thạch chẩy trong lòng kinh đô Hollywood đã làm nhiều khán giả phải toát mồ hôi, thì so với ngày nay, nó đã bị coi là cổ lỗ. Vì trong The Day after Tomorrow (2004), cũng là một phim về đề tài thảm hoạ thiên nhiên, những cơn sóng thần đã tràn cả vào thành phố New York, và làm đóng băng cả tượng nữ thần tự do. Cùng với sự phát triển vượt bậc của kỹ xảo vi tính, thì trí tưởng tượng của các nhà làm phim càng ngày càng đi xa hơn nữa. Điều đó chỉ có lợi cho khán giả, đặc biệt là những người thích xem những tác phẩm hoành tráng.

 

Bên cạnh đề tài thảm hoạ do thiên nhiên gây ra thì đề tài thiên thạch và người hành tinh tấn công trái đất cũng là thể loại phim mà người Mỹ rất ưa thích. Môtíp thường khá giống nhau vì hầu như trong phim luôn có một nhân vật người hùng để cứu nhân loại (Armageddon, Independence Day). Nếu như trong Armageddon, nhân vật do Bruce Willis đóng, đã chấp nhận ở lại đặt quả bom hạt nhân và hi sinh trên tảng thiên thạch khổng lồ đang băng băng đâm vào trái đất, thì trong phim Independence Day, Will Smith đã trở thành người hùng của nhân loại vì đã tìm ra cách tiêu diệt người hành tinh. Cả hai tác phẩm trên đều là những siêu phẩm với những khoản doanh thu khổng lồ.

 

Một trong những nguyên nhân dẫn tới sự bùng nổ của thể loại phim dạng này trong những năm cuối thập kỷ 90 chính là bước tiến vượt bậc trong kỹ xảo phim. Khán giả cách đây khoảng 10 năm ưa thích những tác phẩm mang nhiều nét không tưởng, kỹ xảo loá mắt do máy tính tạo ra hơn.

 

2007 – Phim thảm hoạ lụi tàn

Nhưng trong thời gian gần đây, thể loại phim thảm hoạ đã không còn được sản xuất nhiều như trước kia. Từ sau năm 2001, khán giả hầu như không còn được thưởng thức nhiều những bộ phim dạng này nữa. Cá biệt chỉ có The Day after Tomorrow có những thành công tương đối. Lý do đơn giản có lẽ vì những tác phẩm về thảm hoạ luôn có rất nhiều nhân vật chết, đặc biệt là những người dân thường. Liệu có phải chúng ta đã mệt mỏi khi phải chứng kiến những thảm hoạ thảm khốc xuất hiện trên màn ảnh rộng, trong khi hàng ngày đã có quá nhiều những thông tin dạng này nhan nhản trên tivi. Bên cạnh đó, giờ đây khi kỹ xảo phim mặc dù ngày càng phát triển không có biên giới, nhưng phần nào đã bão hoà trong thị hiếu của khán giả. Nó không còn đặc biệt, gây nên bất ngờ như hơn chục năm trước. Chính điều này vô hình chung khiến các bộ phim thảm hoạ không còn chỗ đứng. Hãy nhìn vào danh sách những tác phẩm ăn khách trong hè năm 2007, chúng ta dễ dàng nhận thấy hầu hết những bộ phim thành công đều đi theo một xu thế mới. Khán giả ngày nay thích những bộ phim hài nhẹ nhàng, hoặc những tác phẩm đi theo xu thế đang rất nóng như chuyển thể từ truyện tranh, game, làm lại từ các bộ phim cũ, phim phần tiếp theo và chúng ngày càng mang tính toàn cầu hơn.

« Previous Page

Blog at WordPress.com.