Phuongcobain's Weblog

March 19, 2009

Iron man – Người sắt (2008)

Filed under: Cinema — phuongcobain @ 9:47 pm

Đạo diễn: Jon Favreau

Diễn viên: Gwyneth Paltrow, Robert Downey Jr, Terrence Howard

Thể loại: Hành động / Giả tưởng / Phiêu lưu / Hài / Rùng rợn 

 

ironman-7-963434Trong khoảng 7 năm trở lại đây, làn sóng chuyển thể các tác phẩm truyện tranh nổi tiếng lên màn ảnh rộng ngày càng lan rộng. Kho truyện tranh với những người anh hùng có khả năng đặc biệt siêu phàm đã quá quen thuộc với độc giả từ mấy chục năm qua. Đây chính là nguồn đề tài phong phú để các nhà làm phim khai thác. Mở đầu cho xu thế này chính là thành công của X-men và Spider-man vào đầu thế kỷ 20. Tiếp sau đó là một loạt các tác phẩm ăn khách khác như Batman Begins, Sin City, Hellboy, Fantastic Four, Constantine, Superman Returns…

 

Trong năm 2008, có ít nhất 5 bộ phim cũng được chuyển thể từ các tác phẩm truyện tranh được ra mắt gồm The Dark Knight, Hellboy 2: the Golden Army, The Incredible Hulk, Get Smart và đặc biệt là Iron man – tác phẩm bom tấn mở màn cho mùa phim hè năm nay. Với kinh phí lên tới 186 triệu $, bộ phim đã được trình chiếu tại Mỹ vào ngày 2/5 vừa qua, và thu được những khoản lợi nhuận khổng lồ. Ngay dịp cuối tuần đầu tiên, Iron man đã mang về cho hãng Paramount 100,8 triệu $, qua đó đứng thứ hai trong danh sách những bộ phim không phải phần tiếp theo thu được nhiều tiền nhất chỉ sau ba ngày.

 

Nội dung kể về Tony Stark, tỷ phú và là thiên tài trong ngành chế tạo vũ khí của tập đoàn Stark Industries. Sau một lần sang Afghanistan làm việc, anh may mắn sống sót trong vụ nổ mìn kinh hoàng tuy tim bị trọng thương nặng. Tony bị lực lượng nổi dậy tại đây bắt ép chế tạo cho chúng một loại vũ khí có sức mạnh khủng khiếp để chống lại kẻ thù. Với hi vọng tồn tại và trốn thoát về Mỹ, thay vì chế tạo tên lửa huỷ diệt, Tony đã sáng chế ra một bộ giáp đạn bắn không xuyên, rồi tiêu diệt luôn đám quân nổi dậy này.

Tất nhiên nội dung không thể đơn giản như vậy, vì đối thủ chính của Iron man ở Mỹ chứ không phải mấy tên lính tại Afghanistan. Quay trở về tổ quốc, được sự giúp đỡ của người trợ lỳ Pepper (Gwyneth Paltrow), Tony nâng cấp bộ áo giáp này lên một mức cao hơn. Giờ đây ngoài một sức mạnh khủng khiếp, Iron man còn có thể bay trên trời gấp hai lần vận tốc âm thanh.  

 

Không giống như những bộ phim về Superhero trước đây như Daredevil, Ghost Raider, Hellboy, X-men… nhân vật Tony Stark trong Iron man mang nhiều nét gần gũi với con người bình thường hơn. Anh cũng từng làm những điều sai trái, cũng từng nghiện rượu, là tay chơi trác táng, sau đó phải đấu tranh tâm lý để vượt qua chính mình. Bản thân diễn viên vào vai Iron man là Robert Downey Jr cũng không thuộc dạng đẹp trai, thân hình cơ bắp lý tưởng như những Superhero khác. Chính điều này khiến cho Iron man nhận được nhiều cảm tình từ phía khán giả thay vì cảm thấy xa vời thực tế.

 

Điểm làm nên sự khác biệt nữa đó là kịch bản của Iron man chứa đựng nhiều chi tiết hài hước, tạo cảm giác thoải mái trong suốt hơn hai tiếng đồng hồ. Đây không phải là tác phẩm Action thuần tuý, mà còn tập trung khai thác yếu tố tâm lý của nhân vật. Chính vì vậy, việc các nhà làm phim thêm vào các tình huống dí dỏm khiến người xem không bị căng thẳng, đau đầu đến phát ngán.   

 

Dựa trên bộ truyện tranh cùng tên của hai tác giả Stan Lee và Jack Kirby (bộ đôi đã sáng tác ra X-men, Spider-man, Fantastic Four), Iron Man là siêu phẩm giải trí không thể bỏ qua trong hè năm nay. Nếu để ý kỹ khi xem phim, ta có thể dễ dàng nhận ra Stan Lee cũng xuất hiện thoáng qua, điều thường thấy trong các phim dựa trên những bộ truyện tranh của ông.

Advertisements

Buddy-Cop

Filed under: Cinema — phuongcobain @ 1:50 pm

Buddy Cop (Đôi bạn cảnh sát) luôn là một đề tài được các hãng phim lớn tại Mỹ dành một sự quan tâm đặc biệt trong suốt một phần tư thế kỷ trở lại đây. Cứ khoảng hai năm,  họ, những nhà làm phim ở Hollywood, vẫn thường cho ra đời một tác phẩm có đề tài thuộc dạng này. Những bộ phim Buddy-cop thường có nội dung về hai nhân viên cảnh sát cùng chung sức nhau để chống lại tội phạm theo những cách khác nhau. Môtíp của của chúng không đa dạng nhưng vẫn đủ sức hấp dẫn khán giả. Quanh đi quẩn lại vẫn chỉ xoay quanh những nội dung như sau: một cảnh sát tốt hợp tác với một cảnh sát hai mang, giao du với đủ loại người (như trong Training Day), hoặc đôi bạn phối hợp ăn ý bổ sung cho nhau (như trong bộ bốn phim Lethal Weapon; Bad Boys), và gần đây là môtíp cả hai cảnh sát đều là những ngôi sao phim hài cùng  góp mặt (trong Rush Hour 1,2; Starsky & Hutch). Vì tập trung vào bộ đôi cảnh sát, nên tính cách và hình tượng của nhân vật rất quan trọng. Nếu như nhân vật không gây được ấn tượng mạnh thì coi như bộ phim đó vứt đi. Nhưng đó chỉ là cái nền để xây dựng mạch phim, còn những diễn biến bên trong vẫn khiến khán giả hài lòng.

 

MVC.1-SHEET.3F

 

Không có gì đáng ngạc nhiên khi trong năm 2006 này, chúng ta lại có dịp được thưởng thức một tác phẩm mới có đề tài về Buddy-cop. Cuối tháng 7 vừa qua, hãng Universal đã tung ra siêu phẩm rất được chờ đợi: Miami Vice. Với một bộ sậu làm phim thượng thặng gồm: đạo diễn Michael Mann (từng làm Collateral, Ali), cùng hai nam diễn viên đang rất nổi Colin Farell và Jamie Fox (đoạt Oscar nam diễn viên chính xuất sắc nhất trong Ray), ngoài ra còn có sự góp mặt của nữ diễn viên người Trung Quốc Củng Lợi. Ngay lập tức Miami Vice đã qua mặt “quả bom tấn” Pirates of the Caribbean: Dead man’s Chest để nhẩy lên xếp thứ nhất trong bảng xếp hạng những bộ phim ăn khách nhất tại Bắc Mỹ ngay trong tuần công chiếu đầu tiên. Miami Vice là tác phẩm được dựng lại từ series phim truyền hình rất ăn khách vào thập kỷ 80 của thế ký trước. Nội dung kể về hai cảnh sát James Crockett và Ricardo Tubbs chiến đầu để chống lại thế giới tội phạm buôn bán và vận chuyển ma tuý ngầm tại Miami. So với bản phim truyền hình, thì tác phẩm phim truyện về bộ đôi cảnh sát (buddy-cop) này tăm tối hơn, và nặng nề hơn hẳn.

 

Trước khi Miami Vice được tung ra thì cũng đã có rất nhiều tác phẩm điện ảnh lấy đề tài Buddy-cop, tất nhiên đi kèm với chúng là rất nhiều thành công về doanh thu, cũng như mang lại tên tuổi cho các diễn viên góp mặt. Đầu tiên phải kể đến bộ phim kinh điển The French Connection của đạo diễn William Friedkin được làm vào năm 1971. Jimmy Doyle (Gene Hackman đóng) là một thám tử phân biệt chủng tộc cùng hợp tác với Russo, người không muốn đi vào con đường lầm lạc. Nhưng khi Jimmy lỡ giết chết một nhân viên khác thì mọi chuyện đã thay đổi. Với vai Jimmy này mà nam diễn viên Gene Hackman đã đoạt giải nam diễn viên chính xuất sắc nhất vào năm 1972. Đây là trường hợp hiếm có khi mà một bộ phim về đề tài đôi bạn cảnh sát đoạt giải Oscar cho hạng mục phim hay nhất. Trước đó vào năm 1968, In the heat of the Night cũng đã đoạt 5 giải Oscar, trong đó có cả phim hay nhất. Tất cả những tác phẩm có cùng đề tài sau này đều không lặp lại được chiến tích của In the heat of the NightThe French Connection.

 

Bù lại cho việc không đoạt nhiều giải thưởng lớn, thì chúng lại rất thành công trong doanh thu. Thậm chí nhiều phim trong số đó đã được xây dựng phần 2, 3, cá biệt lên tới 4 phần như Lethal Weapon của nam diễn viên Mel Gibson. Lấy ví dụ điển hình là trường hợp của  Rush Hour. Phần 1 làm năm 1998, với sự tham gia của ngôi sao Thành Long và nam diễn viên da mầu Chris Tucker đã thu về hơn 141 riệu $ doanh thu tiền bán vé đã khiến cho các nhà sản xuất tiếp tục tung ra phần 2 vào năm 2001. Và bộ đôi cảnh sát Jackie Chan/Chris Tucker lại thu về 226 triệu $ cho hãng sản xuất New line Cinema. Quả là một món đầu tư hời mang lại nhiều hiệu quả. Phần 3 của Rush Hour sẽ được phát hành vào năm 2007 vẫn với “đội hình” cũ (đạo diễn Brett Ratner).

 

Một nguyên nhân dẫn đến thành công của thể loại phim này là vì nó nghiễm nhiên có từ một đến hai ngôi sao cùng xuất hiện trong phim. Khán giả tò mò muốn xem các diễn viên lớn sẽ tranh tài ra sao. Nếu như Training Day mời được Denzel Washington (đoạt Oscar nam diễn viên chính trong vai cảnh sát Alonzo) và Ethan Hawke, thì Bad Boys 2 lại có Will Smith, một cái tên luôn đảm bảo doanh thu, và Martin Lawrence. Hiện nay hầu hết phim buddy-cop đều được xây dựng theo phong cách hành động hài. Hai cảnh sát có tính cách khác hẳn nhau cùng được phân công công tác phá một vụ án. Từ đó dẫn đến những tình huống hài hước. Bad boys, Rush HourStarsky & Hutch đều có một có một công thức làm phim chung như vậy. Sau khi đã phát triển được gần 40 năm nay, chắc chắn trong tương lại, thể loại phim Buddy-cop vẫn sẽ được các nhà làm phim tại Mỹ tập trung khai thác.

 

 

9 bộ phim hay có đề tài về Buddy Cop

 

1 – Lethal Weapon (1987)

Đạo diễn: Richard Donner

Diễn viên: Mel Gibson, Danny Glover

Điểm nổi bật: Martin Riggs (Mel Gibson đóng) là một nhân vật đặc biệt, mái tóc hoang dại, luôn trong tình trạng đau khổ, không còn quan tâm đến chính mạng sống của mình kể từ sau khi người vợ của anh chết trong một tai nạn giao thông. Cùng với Roger (Danny Glover), họ tạo thành một cặp bài trùng ăn ý tiêu diệt tội phạm buôn bán ma tuý, rượt đuổi bằng xe hơi, chiến đấu với máy bay trực thăng, và giải cứu con gái của Roger bị bắt cóc…

 

2 – 48 HRS (1982)

Đạo diễn: Walter Hill

Diễn viên: Nick Nolte, Eddie Murphy

Điểm nổi bật: Đôi khi, mỗi một diễn viên trở thành ngôi sao chỉ nhờ vào một cảnh phim đáng nhớ. Như hình ảnh Jack Nicholson đội chiếc mũ bảo hiểm của dân bóng bầu dục ngồi sau chiếc xe máy trong bộ phim Easy Rider, hay hình ảnh Faye Dunaway ngái ngủ nhìn Warren Beatty qua cửa sổ trong phim Bonnie and Clyde đều đã trở thành huyền thoại. Đối với nam diễn viên Eddie Murphy trong phim này cũng vậy. Chính nhờ vai Reggie mà Eddie đã từ một diễn viên vô danh trơ thành một nhân vật có tên tuổi ở Hollywood.

 

3 – Rush hour (1998)

Đạo diễn: Brett Ratner

Diễn viên: Thành Long, Chris Tucker

Điểm nổi bật: lần đầu tiên nam diễn viên Thành Long đóng trong một bộ phim do Mỹ sản xuất. Và dĩ nhiên Rush Hour được xây dựng theo lối hành động, võ thuật, hài, một đặc sản của Thành Long. Không có gì ngạc nhiên khi khán giả Mỹ rất thích thú khi xem bộ phim này, đặc biệt là lối diễn xuất bổ trợ cho nhau của bộ đôi Thành Long/Chris Tucker. Sang năm 2007, Rush Hour sẽ trở thành một Trilogy (bộ ba phần), khi phần 3 được trình chiếu.

 

4 – Se7en (1995)

Đạo diễn: David Fincher

Diễn viên: Brad Pitt, Morgan Freeman

Điểm nổi bật: Một kết thúc gây shock, có thể làm dựng tóc gáy ngay cả những khán giả khó tính nhất. Bộ đôi cảnh sát trong Seven là một già một trẻ: Somerset (Morgan Freeman), và Mills (Brad Pitt). Họ cùng điều tra về vụ án của một tên giết người hàng loạt với nạn nhận là những người đã phạm phải một trong bẩy tội lỗi của con người. Bối cảnh trong cả chiều dài bộ phim là những ngày mưa tầm tã ở New York, nhưng trường đoạn cuối lại là một ngày nắng đẹp…

 

5 – Bad boys (1995)

Đạo diễn: Michael Bay

Diễn viên: Will Smith, Martin Lawrence

Điểm nổi bật: cả hai nhân vật chính trong phim nói nhanh, nói nhiều. Thoại liên tục từ đầu tới cuối, hiếm khi lúc nào ngưng, tất nhiên trừ những pha hành động hấp dẫn ra. Hai cảnh sát trong phim đều được đóng bởi hai diễn viên da mầu (Will Smith và Martin Lawrence), và chính lối diễn xuất ăn ý của họ đã tạo nên một sắc thái rất riêng cho Bad Boys trong thể loại phim buddy-cop. Phần hai đã được ra mắt vào năm 2003, vẫn giữ được phong cách nói nhiều này.

 

6 – Training Day (2001)

Đạo diễn:

Diễn viên: Denzel Washington, Ethan Hawke

Điểm nổi bật: Câu chuyện chỉ diễn ra trong vòng đúng một ngày, và đây cũng là ngày tuần tra đầu tiên của anh lính mới (Ethan Hawke) với người cộng sự nhiều kinh nghiệm Alonzo (Denzel Washington). Mặc dù là một cảnh sát, nhưng Alonzo lại có những mối quan hệ mật thiết với các tổ chức ngầm của thành phố Los Angeles. Vai cảnh sát hai mang Alonzo là một vai rất khó, nhưng Denzel đã hoàn thành xuất sắc, và rất xứng đáng nhận giải Oscar nam diễn viên xuất sắc nhất năm 2002.

 

7 – Starsky & Hutch (2004)

Đạo diễn:

Diễn viên: Owen Willson, Ben Stiller, Vince Vaughn

Điểm nổi bật: Tập trung một loạt ngôi sao hài mới nổi, Starsky & Hutch là bộ phim buddy-cop được dựa trên series phim cùng tên vào thập kỷ 70, mặc dù vậy tác phẩm điện ảnh này lại xây dựng theo phong cách hài lố. Bộ đôi cảnh sát Hutch (Owen Willson) và Starsky (Ben Stiller) khác nhau về tính cách nhưng cuối cùng đã cộng tác ăn ý với nhau. Phim còn tập trung nhiều ngôi sao ca nhạc, người mẫu nổi tiếng.

 

8 – Black Rain (1989)

Đạo diễn: Ridley Scott

Diễn viên: Michael Douglas, Andy Garcia

Điểm nổi bật: Hai cảnh sát New York đến Nhật Bản để điều tra về một giết người, tiền giả và bị dính lứu đến cuộc chiến giữa các băng đảng Yakuza. Tại đây, để tồn tại và phá án, họ phải tuân theo những luật chơi… Phim được xây dựng tăm tối, gây ấn tượng cho khán giả, đặc biệt là trường đoạn nhân vật thanh tra Charlie (Andy Garcia) bị một băng đảng Yakuza thanh toán ngay trước mắt đồng đội Nick (Michael Douglas).

 

9 – Freebie and the Bean (1974)

Đạo diễn: Richard Rush

Diễn viên: James Cann, Alan Arkin

Điểm nổi bật: Freebie (James Cann) và Bean (Alan Arkin) là hai cảnh sát ở San Francisco, đều có một mong ước muốn với tới trong sự nghiệp là bắt được tên tội phạm Red Meyers. Với những vấn đề được đặt ra và xử lý chúng trong phim như: phân biệt chủng tộc, hài hước trong tình dục không còn hợp thời so với ngày nay. Những bộ phim hiện đại có những khía cạnh trên sẽ tiếp cận theo một hướng hoàn toàn khác.

 

(ĐAKT – 2006)

Les Cahiers du Cinema – Top 100 Films

Filed under: Cinema — phuongcobain @ 1:44 pm

Mới đây, tạp chí về điện ảnh nổi tiếng của Pháp – Les Cahiers du Cinema đã bầu chọn ra Top 100 phim hay nhất qua mọi thời đại. Nhưng không hiểu có phải người Pháp ghét người Anh hay không mà trong Top 100 chẳng có lấy một phim UK. Rất nhiều tác phẩm nổi tiếng như The Third Man, Black Narcissus, Brief Encounter, Lawrence of Arabia, Monty Python and the Holy Grail, Pygmalion, The Fallen Idol… đều không có mặt.

 

citizen-kane-poster-c10047715Cũng giống như cuộc bình chọn do AFI tổ chức, Citizen Kane vẫn là “thí sinh” về nhất. Điều này không ai có thể phủ nhận. Khi Citizen Kane hoàn thành vào năm 1941, Orson Welles mới hơn 26 tuổi. Khá bất ngờ khi The Night of the Hunter của đạo diễn / diễn viên Charles Laughton về thứ hai (đây là bộ phim duy nhất mà ông làm đạo diễn trong suốt cả sự nghiệp). Sunrise, tác phẩm mà tôi rất thích đứng ở vị trí thứ 4.

 

Lọt vào trong Top 10 có đến 5 phim của người Mỹ, 3 phim của người Pháp, 2 phim của người Đức. Không có phim nào của Ý, Nga, Tây Ban Nha, Nhật. Chỉ có 2 tác phẩm sản xuất trong thế kỷ 21 được Les Cahiers du Cinema chọn vào Top 100 là Talk to her (2003) và Mullholand Drive (2001), nhưng đều xếp gần cuối bảng.

 

Điều đáng chú ý khác đó là hàng loạt bộ phim thuộc trào lưu Làn sóng mới trong thập niên 60, 70 của những tên tuổi như Jean Luc Godard, Francois Truffaut, Louis Malle… đều xếp khá thấp, cho dù họ đều là những cây viết, nhưng cộng tác viên nhiệt tình cho tạp chí Cahiers du Cinema thời kỳ đầu. Chỉ duy nhất Contemp của Jean Luc Godard là “leo” lên được vị trí thứ 15. Tiếp sau đó là Hiroshima, Mon Amour của Alain Resnais xếp thứ 26.

 

1. Citizen Kane – Orson Welles

2. The Night of the Hunter – Charles Laughton

3. The Rules of the Game (La Règle du jeu) – Jean Renoir

4. Sunrise: A Song of Two Humans (L’Aurore) – Friedrich Wilhelm Murnau

5. L’Atalante – Jean Vigo

6. M – Fritz Lang

7. Singin’ in the Rain – Stanley Donen & Gene Kelly

8. Vertigo – Alfred Hitchcock

9. Children of Paradise (Les Enfants du Paradis) – Marcel Carné

10. The Searchers – John Ford

11. Greed – Erich von Stroheim

12. Rio Bravo – Howard Hawkes

13. To Be or Not to Be – Ernst Lubitsch

14. Tokyo Story – Yasujiro Ozu

15. Contempt (Le Mépris) – Jean-Luc Godard

16. Tales of Ugetsu (Ugetsu monogatari) – Kenji Mizoguchi

17. City Lights – Charlie Chaplin

18. The General – Buster Keaton

19. Nosferatu the Vampire – Friedrich Wilhelm Murnau

20. The Music Room – Satyajit Ray

21. Freaks – Tod Browning

22. Johnny Guitar – Nicholas Ray

23. The Mother and the Whore (La Maman et la Putain) – Jean Eustache

24. The Great Dictator – Charlie Chaplin

25. The Leopard (Le Guépard) – Luchino Visconti

26. Hiroshima, My Love – Alain Resnais

27. The Box of Pandora (Loulou) – Georg Wilhelm Pabst

28. North by Northwest – Alfred Hitchcock

29. Pickpocket – Robert Bresson

30. Golden Helmet (Casque d’or) – Jacques Becker

31. The Barefoot Contessa – Joseph Mankiewitz

32. Moonfleet – Fritz Lang

33. Diamond Earrings (Madame de…) – Max Ophüls

34. Pleasure – Max Ophüls

35. The Deer Hunter – Michael Cimino

36. The Adventure – Michelangelo Antonioni

37. Battleship Potemkin – Sergei M. Eisenstein

38. Notorious – Alfred Hitchcock

39. Ivan the Terrible – Sergei M. Eisenstein

40. The Godfather – Francis Ford Coppola

41. Touch of Evil – Orson Welles

42. The Wind – Victor Sjöström

43. 2001: A Space Odyssey – Stanley Kubrick

44. Fanny and Alexander – Ingmar Bergman

45. The Crowd – King Vidor

46. 8 1/2 – Federico Fellini

47. La Jetée – Chris Marker

48. Pierrot le Fou – Jean-Luc Godard

49. Confessions of a Cheat (Le Roman d’un tricheur) – Sacha Guitry

50. Amarcord – Federico Fellini

51. Beauty and the Beast (La Belle et la Bête) – Jean Cocteau

52. Some Like It Hot – Billy Wilder

53. Some Came Running – Vincente Minnelli

54. Gertrud – Carl Theodor Dreyer

55. King Kong – Ernst Shoedsack & Merian J. Cooper

56. Laura – Otto Preminger

57. The Seven Samurai – Akira Kurosawa

58. The 400 Blows – François Truffaut

59. La Dolce Vita – Federico Fellini

60. The Dead – John Huston

61. Trouble in Paradise – Ernst Lubitsch

62. It’s a Wonderful Life – Frank Capra

63. Monsieur Verdoux – Charlie Chaplin

64. The Passion of Joan of Arc – Carl Theodor Dreyer

65. À bout de souffle – Jean-Luc Godard

66. Apocalypse Now – Francis Ford Coppola

67. Barry Lyndon – Stanley Kubrick

68. La Grande Illusion – Jean Renoir

69. Intolerance – David Wark Griffith

70. A Day in the Country (Partie de campagne) – Jean Renoir

71. Playtime – Jacques Tati

72. Rome, Open City – Roberto Rossellini

73. Livia (Senso) – Luchino Visconti

74. Modern Times – Charlie Chaplin

75. Van Gogh – Maurice Pialat

76. An Affair to Remember – Leo McCarey

77. Andrei Rublev – Andrei Tarkovsky

78. The Scarlet Empress – Joseph von Sternberg

79. Sansho the Bailiff – Kenji Mizoguchi

80. Talk to Her – Pedro Almodóvar

81. The Party – Blake Edwards

82. Tabu – Friedrich Wilhelm Murnau

83. The Bandwagon – Vincente Minnelli

84. A Star Is Born – George Cukor

85. Mr. Hulot’s Holiday – Jacques Tati

86. America, America – Elia Kazan

87. El – Luis Buñuel

88. Kiss Me Deadly – Robert Aldrich

89. Once Upon a Time in America – Sergio Leone

90. Daybreak (Le Jour se lève) – Marcel Carné

91. Letter from an Unknown Woman – Max Ophüls

92. Lola – Jacques Demy

93. Manhattan – Woody Allen

94. Mulholland Dr. – David Lynch

95. My Night at Maud’s (Ma nuit chez Maud) – Eric Rohmer

96. Night and Fog (Nuit et Brouillard) – Alain Resnais

97. The Gold Rush – Charlie Chaplin

98. Scarface – Howard Hawks

99. Bicycle Thieves – Vittorio de Sica

100. Napoléon – Abel Gance

Sự giãy chết của thể loại phim thảm hoạ

Filed under: Cinema — phuongcobain @ 1:40 pm

Đã từ rất lâu rồi, phim về thảm hoạ (Disaster movies) không còn làm mưa làm gió tại các phòng chiếu, chúng không còn là một “hiện tượng” để báo chí tốn nhiều giấy mực viết về nó, và cũng không còn là điều gì mới mẻ đối với khán giả nghiền phim. Những tưởng vào giữa năm 2006, với sự xuất hiện của Poseidon, nhiều người đã hi vọng rằng một lần nữa báo chí, cùng các khán giả mộ điệu sẽ phải nhắc đến thể loại phim tưởng chừng như đã không còn chỗ đứng này. Người làm sống lại thể loại phim thảm hoạ chính là đạo diễn lừng danh Wolfgang Petersen, ông vua của các bộ phim về đại dương với Das Boot (1981), và The Perfect Storm (1999). Nhưng đó dường như chỉ là một đốm lửa nhỏ chợt bùng lên lần cuối cùng rồi tắt ngấm.

 

the-day-after-tomorrow-2

 

Phim thảo hoạ

Disaster movies là thể loại phim có nội dung đề cập đến những thảm hoạ diễn ra trên trái đất tác động trực tiếp đến con người theo nhiều cách khác nhau. Nhưng tựu chung lại, chúng chỉ gồm vài đề tài quen thuộc như: thảm hoạ do thiên nhiên gây ra (tiêu biểu là các tác phẩm The Day after tomorrow, The Core, Dante’s Peak, Volcano), thảm hoạ do thiên thạch hoặc người hành tinh tấn công trái đất (Armageddon, Deep Impact, Independence Day, War of the Worlds), và cuối cùng là sự tồn tại của con người trước thảm hoạ (Titanic, The Towering Inferno, Poseidon). Đặc điểm chung của thể loại phim này là có rất nhiều người dân thường… bị chết, hoặc nhân vật phải hi sinh tính mạng.

 

Ở thể loại thứ ba, những nhà làm phim không quá chú trọng vào các kỹ xảo, & hiệu ứng đặc biệt để hấp dẫn khán giả mà tập trung nhiều hơn vào sự sinh tồn của các nhân vật trong phim, đây có thể coi là thể loại phim sinh tồn. Poseidon cũng không phải là một ngoại lệ. Vào cái đêm chuyển giao sang năm mới, con tầu khổng lồ mang tên Poseidon, với đầy đủ tiện nghi và trang thiết bị phục vụ hiện đại nhất đã bị một con sóng thần đánh lật úp. Hầu hết hành khách trên tầu đều bị tử nạn ngay sau đó, chỉ còn lại một vài người may mắn sống sót. Họ phải cố gắng tìm cách thoát khỏi con tầu trước khi nó bị chìm hoàn toàn xuống đại dương. Và tất nhiên, từng người trong số họ sẽ bị chết trong những tình huống nghẹt thở. Chủ đề xuyên suốt của bộ phim không có gì mới, hay nói đúng ra là quá cũ kỹ, khi đạo diễn tập trung vào khai thác số phận của từng con người trên chiếc tầu khổng lồ đó. Khán giả sẽ chẳng có gì ngạc nhiên khi lần lượt các nhân vật một sẽ bị đưa ra làm nạn nhân trong những tình huống căng thẳng đến tột cùng. Nhưng Poseidon vẫn hấp dẫn với những đối tượng khán giả thích thể loại phim hồi hộp từ đầu tới cuối mà không phải suy nghĩ quá nhiều. Đa số các tạp chí về điện ảnh uy tín trên thế giới vẫn chấm Poseidon điểm khá. Tuy nhiên doanh thu của tác phẩm này cho đến nay cũng chỉ lẹt đẹt đạt mức 61 triệu $ tại thị trường Mỹ (trong khi số vốn ban đầu bỏ ra là 160 triệu $). Cùng đề tài này trước đó còn có Titanic (1997) và The Towering Inferno (1974) với xuất sự của dàn diễn viên rất nổi tiếng thời đó gồm: Paul Newman, Steve McQueen, Faye Dunaway. Chính sự thành công của bộ phim này (với 3 giải Oscar vào năm 1975) đã làm nở rộ lên làn sóng làm phim về thảm hoạ những năm 70 của thế kỷ trước.

 

Sự bùng nổ của thể loại phim thảm hoạ

Vào cuối thập kỷ 90, các nhà làm phim tại Holywood lại đua nhau cho ra đời những tác phẩm có đề tài thảm hoạ. Đây có thể coi là “đợt sóng” rầm rộ thứ 2 sau làn sóng của thể loại phim thảm hoạ lần đầu tiên bủng nổ vào cuối thập niên 70. Riêng về núi lửa đã có liền hai tác phẩm đuợc trình chiếu trong vòng một năm là Dante’s PeakVolcano (1997). Trí tưởng tượng của các biên kịch gia đã đi rất xa khi cho núi lửa phun trào ngay giữa lòng thành phố Los Angeles (phim Volcano). Để đáp ứng được trí tưởng tượng đó thì công nghệ về kỹ xảo điện ảnh cũng đã có những bước tiến rất dài. So với 9 năm trước đây, khi nham thạch chẩy trong lòng kinh đô Hollywood đã làm nhiều khán giả phải toát mồ hôi, thì so với ngày nay, nó đã bị coi là cổ lỗ. Vì trong The Day after Tomorrow (2004), cũng là một phim về đề tài thảm hoạ thiên nhiên, những cơn sóng thần đã tràn cả vào thành phố New York, và làm đóng băng cả tượng nữ thần tự do. Cùng với sự phát triển vượt bậc của kỹ xảo vi tính, thì trí tưởng tượng của các nhà làm phim càng ngày càng đi xa hơn nữa. Điều đó chỉ có lợi cho khán giả, đặc biệt là những người thích xem những tác phẩm hoành tráng.

 

Bên cạnh đề tài thảm hoạ do thiên nhiên gây ra thì đề tài thiên thạch và người hành tinh tấn công trái đất cũng là thể loại phim mà người Mỹ rất ưa thích. Môtíp thường khá giống nhau vì hầu như trong phim luôn có một nhân vật người hùng để cứu nhân loại (Armageddon, Independence Day). Nếu như trong Armageddon, nhân vật do Bruce Willis đóng, đã chấp nhận ở lại đặt quả bom hạt nhân và hi sinh trên tảng thiên thạch khổng lồ đang băng băng đâm vào trái đất, thì trong phim Independence Day, Will Smith đã trở thành người hùng của nhân loại vì đã tìm ra cách tiêu diệt người hành tinh. Cả hai tác phẩm trên đều là những siêu phẩm với những khoản doanh thu khổng lồ.

 

Một trong những nguyên nhân dẫn tới sự bùng nổ của thể loại phim dạng này trong những năm cuối thập kỷ 90 chính là bước tiến vượt bậc trong kỹ xảo phim. Khán giả cách đây khoảng 10 năm ưa thích những tác phẩm mang nhiều nét không tưởng, kỹ xảo loá mắt do máy tính tạo ra hơn.

 

2007 – Phim thảm hoạ lụi tàn

Nhưng trong thời gian gần đây, thể loại phim thảm hoạ đã không còn được sản xuất nhiều như trước kia. Từ sau năm 2001, khán giả hầu như không còn được thưởng thức nhiều những bộ phim dạng này nữa. Cá biệt chỉ có The Day after Tomorrow có những thành công tương đối. Lý do đơn giản có lẽ vì những tác phẩm về thảm hoạ luôn có rất nhiều nhân vật chết, đặc biệt là những người dân thường. Liệu có phải chúng ta đã mệt mỏi khi phải chứng kiến những thảm hoạ thảm khốc xuất hiện trên màn ảnh rộng, trong khi hàng ngày đã có quá nhiều những thông tin dạng này nhan nhản trên tivi. Bên cạnh đó, giờ đây khi kỹ xảo phim mặc dù ngày càng phát triển không có biên giới, nhưng phần nào đã bão hoà trong thị hiếu của khán giả. Nó không còn đặc biệt, gây nên bất ngờ như hơn chục năm trước. Chính điều này vô hình chung khiến các bộ phim thảm hoạ không còn chỗ đứng. Hãy nhìn vào danh sách những tác phẩm ăn khách trong hè năm 2007, chúng ta dễ dàng nhận thấy hầu hết những bộ phim thành công đều đi theo một xu thế mới. Khán giả ngày nay thích những bộ phim hài nhẹ nhàng, hoặc những tác phẩm đi theo xu thế đang rất nóng như chuyển thể từ truyện tranh, game, làm lại từ các bộ phim cũ, phim phần tiếp theo và chúng ngày càng mang tính toàn cầu hơn.

Create a free website or blog at WordPress.com.