Phuongcobain's Weblog

March 21, 2009

The Lord of the Rings Trilogy

Filed under: Cinema — phuongcobain @ 1:03 pm
Tags:

elijah_wood_in_the_lord_of_the_rings__the_two_towers_wallpaper_3_1024

 

The Lord of the Rings: Fellowship of the Ring

Chúa tể của những chiếc nhẫn: Hiệp hội nhẫn

Chúa Nhẫn là một bản trường ca mới của hãng phim New Line Cinema nói riêng và trên nền điện ảnh thế giới nói chung. Đây cũng là bộ ba tập phim (trilogy) có lượng khán giả hâm một bậc nhất được sản xuất ra trong những năm đầu thế kỷ 21 này. Và cho đến nay, cả ba phần đều được thực hiện bởi đạo diễn Peter Jackson này đã lãnh tới 17 giải Oscar trong ba năm liên tiếp.

Trong phần 1: Hiệp hội nhẫn, chúng ta sẽ được khám phá vùng đất The Shire, nơi Frodo (Elijah Wood) người Hobbit nhỏ bé vô tình phải năm giữ một chiếc nhẫn có sức mạnh khủng khiếp, vốn là vật sở hữu của chúa tể bóng tối hắc ám Sauron. Frodo cùng ba người Hobbit dũng cảm khác , dưới sự bảo vệ của một phù thủy, một người lùn, một tiên, và hai chiến binh loài người tạo nên hiệp hội nhẫn. Họ cùng trải qua một cuộc hành trình dài xuyên qua những ngọn núi, bão tuyết, bóng tối, rừng rậm để đến đỉnh núi Mordor phá huỷ chiếc nhẫn.

The lord of the Rings: Two Towers

Chúa tể của những chiếc nhẫn: Hai tòa tháp

Sau khi phần 1 kêt thúc, hiệp hội bảo vệ nhẫn bị tan vỡ, Boromir bị chết, Merry và Pippin bị lũ quái vật Uruk-hai bắt giữ, Frodo (Elijah Wood) cùng người bạn Sam (Sean Astin) tiếp tục tiến đến đỉnh núi Mordor để phá hủy chiếc nhẫn. Ở tập hai này, Frodo được Smeagol, vốn trước kia cũng là một người Hobbit, dẫn đường. Trong khi đó bộ tứ Gandalf, Aragorn, Gimli, Legolas tiến tới xứ sở Rohan để giải cứu cho quốc vương Theoden, khi ông này bị bùa chú của phù thủy Saruman phù phép làm cho lú lẫn. Tránh cho dân thường khỏi bị giết hại, Theoden quyết định di dời toàn bộ về thành phố Gondor để chống 10 nghìn quân Uruk-hai. Tại đây, một trận chiến kinh hoàng không cân sức diễn ra giữa người, tiên và quái vật, nhưng cũng như trong những chuyện cổ tích từ thời xa xưa, phép mầu luôn hiện ra ở phút cuối cùng.

Được các Fan hâm một đánh giá cao nhất trong cả ba phần, nhưng Hai tòa tháp chỉ lĩnh được có 2 giải Oscar trong năm 2003 cho hạng mục hiệu quả hình ảnh và biên tập âm thanh.

The Lord of the Rings: The Return of the King

Chúa tể của những chiếc nhẫn: Sự trở về của đế vương

Tính cho tới nay, trong lịch sử 79 năm giải Oscar đã diễn ra, mới chỉ có 3 bộ phim đoạt tới mức kỷ lục 11 giải liền là Ben Hur, Titanic và gần đây nhất là The Lord of the Rings: The Return of the King. Đây cũng là phần thưởng xứng đáng dành cho thiên sử thi hoành tráng dài hơn 10 tiếng đồng hồ (tính gộp cả ba phần), được hãng New Line Cinema xây dựng dựa trên bộ truyện kinh điển của nhà văn J.R.R Tolkien. Kết thúc phần II, cuộc chiến tại Helm Deep khép lại với chiến thắng của những chiến binh Rohan, dưới sự chỉ huy của Aragorn và vua Theoden, trong khi lực lượng của phù thuỷ Saruman bị tiêu diệt toàn bộ.

Tuy nhiên thế lực bóng tối của Sauron vẫn còn đó, với những binh đoàn quân khổng lồ đang nhăm nhe chiếm lĩnh toàn bộ Middle Earth. Trong phần III này, cuộc chiến diễn ra còn ác liệt hơn, qui mô rộng lớn hơn, và sự tham gia của đông quân hơn với trận chiến trên cánh đồng Pelennor tại Minas Tirith xứ Gondor. Biết rằng với lực lượng của xứ Rohan cộng với quân đội Gondor cũng không thể chống lại vô số lũ Orge, Aragorn phải ra đi tìm những lực lượng cứu viện khác. Trong khi đó Frodo và Sam vẫn từng bước, từng bước leo lên đỉnh Mordor để phá huỷ chiếc nhẫn tối thượng…

March 20, 2009

Hollywood 2008

Filed under: Cinema — phuongcobain @ 4:18 pm

Vậy là năm 2008 sắp trôi qua, chúng ta đã được chứng kiến một mùa phim bội thu tại bắc Mỹ, đặc biệt là trong gần 4 tháng hè đầy sôi động. Mặc dù đề tài mà các nhà làm phim khai thác rất rộng, nhưng mỗi năm ta đều có thể nhận thấy một vài xu hướng chủ đạo. Nếu như năm 2007 phim ca vũ nhạc có sự trở lại mạnh mẽ (Hairspray, Enchanted, Sweetney Tood: the Demon Barber of Fleet Street, Across of Universe) thì làn sóng chuyển thể từ các Game ăn khách lên màn ảnh rộng cũng ngày càng lan rộng (Hitman, Resident Evil: Extinction). Bên cạnh đó, tiếp nối thành công từ những năm trước, thể loại phim thần thoại cũng được nhiều hãng phim lớn tập trung khai thác, như Beowulf, The Golden Compass, Stardust, The Seeker: Dark is Rising. Có thành công, có thất bại, nhưng chúng ta đều phải đồng ý rằng mùa phim năm 2007 thực sự rất đa dạng về đề tài. Bước sang năm 2008, thậm chí thị trường phim ảnh tại bắc Mỹ còn khó đoán và nhiều điều bất ngờ hơn nữa.

 

the_dark_knight_quad_poster

 

Xu thế “remake”

Đầu tiên phải kể đến sự thất bại toàn diện của xu thế làm lại (remake) các bộ phim nối tiếng đến từ Châu Á. Từ hơn 5 năm qua, người Mỹ đã thành công trong việc mua tác quyền kịch bản các tác phẩm ăn khách của Hàn Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông để xây dựng theo phong cách Hollywood (The Ring, The Grudge, The Departed). Thế nhưng, những bộ phim remake, đặc biệt là thể loại kinh dị ra mắt trong năm nay bị khán giả chê thậm tệ.

 

Mở đầu là One missed call hồi tháng 1, tiếp sau đó là The Eye, Shutter đều gây thất vọng tràn trề. Không những làm mất đi cái hồn so với tác phẩm gốc mà doanh thu của chúng còn khá lẹt đẹt (xấp xỉ 30 triệu $). Trong khi đó, các bộ phim được remake khác như My Sassy Girl, Mirror cũng chỉ nhỉnh hơn chút xíu về chất lượng. Tuy nhiên, không ai có thể ngờ rằng, thất bại thảm hại nhất trong năm lại thuộc về Bangkok Dangerous (phim gốc của Thái Lan sản xuất năm 1999). Vẫn do hai anh em Oxide / Danny Pang đạo diễn, cộng với danh tiếng của Nicolas Cage cũng chẳng thể cứu vãn nổi tình trạng hẩm hiu tại phòng vé. Tính cho đến lúc bị “out” khỏi rạp chiếu, Bangkok Dangerous chỉ thu được vỏn vẹn 15 triệu $, trong khi số vốn ban đầu bỏ ra là 40 triệu $.

 

Sự trở lại của những người hùng

Có thể nói, mùa phim hè năm 2008 đánh dấu sự trở lại rầm rộ của hàng loạt siêu anh hùng, những người đã từng làm mưa làm gió trên màn ảnh rộng từ một vài hay nhiều năm trước đây. Khác với mùa phim hè 2007, các nhân vật trong năm nay rất đa dạng về phong cách, từ siêu anh hùng truyện tranh truyền thống (The Incredible Hulk, Hell boy, Batman), cho đến các bác già còn máu phiêu lưu (Indiana Jones, Rambo), hay thế hệ “superheroes” bệ rạc khác lạ (Hancock, Wanted).

 

Tuy nhiên, mở hàng cho mùa phim hè năm nay lại là một gương mặt hoàn toàn mới toanh: Iron man. Sau bao năm phải hợp tác với nhiều hãng phim lớn khác tại Hollywood để cùng nhau chuyển thể các bộ truyện tranh nổi tiếng thành tác phẩm điện ảnh, thì Iron man đã đánh dấu một bước ngoặt thực sự khi trở thành bộ phim đầu tiên do hãng Marvel tự tay sản xuất (liền ngay sau đó là The Incredible Hulk). Xem ra việc “tự lập tự cường” này đã đem lại hiệu quả tức thời vì Người sắt đã mang về cho Marvel tới 571,8 triệu $ trên toàn thế giới. Một thành công ngoài sức tưởng tượng cho vô số khán giả, và cho cả chính các nhà sản xuất.

 

Mở đầu với sự ăn khách bất ngờ của Iron man thì kết thúc mùa phim hè lại là tác phẩm lớn nhất trong năm – The Dark Knight. Không những đã nhẩy lên xếp thứ 3 trên top 250 phim hay nhất mọi thời đại do khán giả bình chọn trên trang web imdb, Kỵ sĩ bóng đêm còn lập vô số kỷ lục đáng tự hào khác. Chỉ ngay ngày đầu ra mắt, The Dark Knight đã thu về tới 66,4 triệu $, qua đó trở thành bộ phim ăn khách nhất mọi thời đại chỉ qua một ngày trình chiếu, đánh bại Spider-man 3 vào năm 2007 (59,8 triệu $). Sau 3 ngày cuối tuần, bộ phim đã mang về 155,3 triệu $, và ngay lập tức nhẩy lên đứng thứ nhất trong bảng xếp hạng những bộ phim mở màn ăn khách nhất trong lịch sử.

 

Nguyên nhân của sự trở lại đồng loạt này thì có nhiều nhưng tựu trung lại đều vì những lý do sau: muốn gây dựng lại tên tuổi đã vang bóng một thời như Indiana Jones: the Kingdom of the Crystal Skull (sau 28 năm kể từ tập thứ ba – The Last Crusade được trình chiếu), Rambo (sau 20 năm), vì là phần tiếp theo như The Dark Knight, Hell boy II: the Golden Army, hay đơn giản chỉ là làm mới lại hình ảnh do thất bại trong quá khứ – The Incredible Hulk.

 

Hầu hết các tác phẩm kể trên đều có mặt tích cực, thì riêng hai quả bom tấn Speed RacerThe Mummy: Tomb of Dragon Emperor lại gây “ngỡ ngàng” nhất (theo hướng tiêu cực) trong mùa phim hè. Trong khi Vua tốc độ nhanh chóng trở thành “vua rùa bò” do doanh thu quá thấp (43 triệu $ tính riêng tại thị trường Mỹ) so với số vốn ban đầu bỏ ra (120 triệu), thì Xác ướp 3 có chất lượng quá tệ so với hai phần trước.

 

Cuộc chiến hoạt hình 3D ngày càng hấp dẫn

Mới chỉ cách đây vài năm thôi, thế giới phim hoạt hình 3D đều nằm trong tay hai đại gia là Walt Disney / PixarDreamworks với vô số tác phẩm ăn khách. Cuộc đua song mã của hai đối thủ truyền kiếp đã tốn không biết bao nhiêu giấy mực của giới báo chí và luôn tạo được sức hút mạnh mẽ về phía khán giả. Giờ đây, thị trường béo bở này đã trở thành thế chân vạc khi ta được chứng kiến sự vươn lên mạnh mẽ của hãng 20th Century Fox.

 

Thực ra, 20th Century Fox đã được biết đến trên lĩnh vực phim hoạt hình 3D từ năm 2002 với Ice Age, Robot (2005) và Ice Age II: the Meltdown (2006). Mặc dù nét vẽ của các tác phẩm kể trên không đẹp đến tuyệt hảo như Disney/Pixar, không có nét ngộ nghĩnh, “gian xảo” và phá cách như của Dreamworks nhưng hãng 20th Century Fox vẫn thu về được những thành công đáng kể. Cán cân giờ đây không nghiêng hẳn về bên nào, cho dù số lượng khán giả ủng hộ Walt Disney vẫn được cho là nhiều nhất. Cuộc đua giữa ba hãng lớn ngày càng dữ dội. Bằng chứng là các tác phẩm chủ lực của họ được trình chiếu rải rác để tránh đụng độ nhau, chứ không tập trung vào dịp hè hay cuối năm như trước đây.

 

Nếu Horton hears a Who! của hãng 20th Century Fox chính là bộ phim “khơi mào” cho cuộc đua tam mã trong năm 2008, thì vào ngày 6 tháng 6, Kung fu Panda của hãng Dreamworks cũng đã làm mưa làm gió trên Top Box Office. Hiện nay, chú gấu trúc béo mập đã thu về tới 215 triệu $ riêng tại thị trường Bắc Mỹ. Trong khi đó, Wall-E, tác phẩm mới nhất của hãng Pixar cũng không chịu kém cạnh khi được giới phê bình hết lời khen ngợi. Dịp cuối năm, Dreamworks còn kịp “bồi” thêm Madagasca 2, còn Walt Disney cũng đáp trả bằng Bolt. Tất nhiên cả hai cũng đạt được những thành công tương đối. Xem ra cuộc chiến giữa ba hãng mới chỉ bắt đầu. Miếng bánh nhỏ còn lại sẽ rơi vào tay các hãng phát hành ít tên tuổi trong ngành hoạt hình 3D khác như Sony (Monster House, Open Season, Surf’s up), Warner Bros (Happy Feet).

 

Những ứng cử viên sáng giá tại giải Oscar

Tại Hollywood một năm chỉ có hai mùa phim chính là mùa phim hè và mùa phim giáng sinh. Trong khi khoảng 8 tháng đầu năm, các hãng phim chỉ tung ra các quả bom tấn giải trí đơn thuần với mục đích duy nhất là mang lại những khoản lợi nhuận khổng lồ thì mùa phim cuối năm lại tập trung hàng loạt các ứng cử viên nặng ký cho giải Oscar. Tất nhiên đối với những tác phẩm mang tính hàn lâm cao thì việc kén khán giả cũng là điều dễ hiểu.

 

Những cái tên sáng giá nhất tính cho tới thời điểm hiện tại có thể kể đến The Wrestler – giải sư tử vàng tại LHP Vernice của đạo diễn Darren Aronofsky (từng nổi tiếng với Pi, Requiem for a Dream, The Fountain), Milk – tác phẩm mới nhất của Gus Van Sant, The Curious Case of Benjamin Button do đạo diễn David Fincher thực hiện, Doubt với sự diễn xuất tuyệt vời của bộ đôi Meryl StreepPhilip Seymour Hoffman, Synecdoche, New York – bộ phim đầu tay của biên kịch gia nổi tiếng Charlie Kaufman, hay thậm chí cả tác phẩm độc lập kinh phí thấp Slumdog Millionaire. Tất nhiên không thể bỏ qua Changeling, do bấy lâu nay AMPAS vẫn luôn giành ưu ái cho vị đạo diễn cựu trào Clint Eastwood. Hãy cùng chờ một cuộc đua thú vị sẽ diễn ra vào đầu năm 2009.

Những ngày tham dự LHP Rotterdam lần thứ 38

Filed under: Cinema,Life — phuongcobain @ 9:33 am
Tags:

rotterdam

 

Khi nhắc đến các Liên Hoan Phim được tổ chức thường niên hàng năm trên thế giới, khán giả hâm mộ môn nghệ thuật thứ bẩy thường nghĩ ngay tới 3 LHP lớn nhất là Berlin (tháng 2), Cannes (tháng 5), và Venice (tháng 9). Tiếp sau đó, mới là Sundance, Toronto, Montreal… Mỗi một LHP lại có ban giám khảo khác nhau, với những tiêu chí, chủ đề khác nhau, thậm chí tính nghệ thuật, thương mại cũng hoàn toàn khác nhau. Nếu như Cannes, Venice luôn hào nhoáng, là nơi hội tụ của vô số ngôi sao trên toàn thế giới, thì LHP Rotterdam của Hà Lan lại chú trọng vào những bộ phim độc lập, những tác phẩm điện ảnh mang nhiều tính thể nghiệm, nhiều tính sáng tạo mới.

 

LHP Rotterdam lần thứ 38 diễn ra từ ngày 21/1 đến ngày 1/2/2009, với sự tham gia của hàng trăm nhà làm phim (đạo diễn, sản xuất…), nhà báo, những người làm trong ngành điện ảnh, cùng hàng nghìn khán giả đến từ nhiều quốc gia khác nhau trên toàn thế giới. Trong 12 ngày diễn ra LHP, hàng trăm tác phẩm bao gồm phim truyện, phim tài liệu và phim phim ngắn đã được trình chiếu cho khán giả ở 5 cụm rạp tại trung tâm thành phố Rotterdam. Bên cạnh việc trình chiếu các tác phẩm điện ảnh thuần tuý, LHP Rotterdam còn có nhiều hoạt động khác nhau được tổ chức như triển lãm, hội thảo, giao lưu với đoàn làm phim, Cinemart (dành riêng cho 36 đạo diễn giới thiệu dự án của mình để tìm nguồn tài chính), Rotterdam LAP (khoá học ngắn hạn về sản xuất phim), khoá học về phê bình lý luận điện ảnh, kỷ niệm 20 năm quỹ HBF (tài trợ các dự án điện ảnh cho các nước đang phát triển).  

 

Năm nay, LHP Rotterdam được chia ra làm 3 hạng mục chính gồm Bright Future: dành riêng cho 14 tác phẩm đầu tay hoặc thứ hai của 14 đạo diễn (đây là hạng mục tranh giải VPRO Tiger Awards), Spectrum: dành cho những nhà làm phim đã có nhiều kinh nghiệm với các tác phẩm nổi bật trong năm (cả phim ngắn lẫn phim truyện dài), và Signals: chiếu phim theo 8 chủ đề khác nhau.

 

Tuy qui mô cũng như mức độ nổi tiếng không lớn bằng Cannes, cũng không lâu đời như Venice nhưng LHP Rotterdam 2009 qui tụ khá nhiều tác phẩm nổi đình đám trong năm 2008 như Il Divo (Jury Prize tại LHP Cannes 2008), Gomorra (Giải thưởng lớn tại LHP Cannes 2008) cùng của Ý, Slumdog Millionaire (4 giải Quả cầu vàng) do Anh – Mỹ hợp tác sản xuất, 24 City của đạo diễn Giả Chương Kha đến từ Trung Quốc, Rachel Getting Married (đề cử giải Sư tử vàng tại LHP Venice, đề cử giải Quả cầu vàng nữ diễn viên chính xuất sắc nhất cho Anne Hatthaway), Shirin của đạo diễn nổi tiếng người Iran Abbas Kiarostami, Even If You Walk and Walk của đạo diễn người Nhật Hirokazu Koreeda (từng thực hiện Nobody Knows, After Life), Tôkyô Sonate của Kiyoshi Kurosawa.

 

Cũng qua LHP Rotterdam, mà cụ thể ở đây là hạng mục VPRO Tiger Awards, nhiều thế hệ đạo diễn trẻ tài năng đã được phát hiện ra, về sau nay đều trở nên nổi tiếng. Có thể kể đến Christopher Nolan với The Following (đoạt giải VPRO Tiger Awards) hồi năm 1999, Hashigushi Ryosuke với Like Grains of Sand, Hong Sang Soo với The Day a Pig Into the Well, Lâu Diệp với Suzhu River…Khi các bạn đang cầm số báo này trên tay, LHP Rotterdam đã kết thúc với các giải thưởng quan trọng được trao: 3 giải Con hổ (VPRO Tiger Awards) thuộc về Be calm and count to seven (Iran), Breathless (Hàn Quốc) và Wrong Rosary (Thổ Nhĩ Kỳ), giải FIPRESCI của hiệp hội phê bình phim quốc tế được trao cho Blind pig who wants to fly của Indonesia.

 

Năm nay, Trăng Nơi Đáy Giếng là tác phẩm duy nhất đại diện cho Việt Nam tới tham dự LHP Rotterdam. Dựa trên truỵên ngắn cùng tên của nhà văn Trần Thuỳ Mai, Trăng Nơi Đáy Giếng được thực hiện bởi đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn, với sự tham gia diễn xuất của Hồng Ánh. Bộ phim sẽ được trình chiếu trong hạng mục Signals – Hungry Ghosts tại 5 phòng chiếu khác nhau. Hungry Ghosts – một trong 8 chủ đề của Signals, chủ yếu tập trung vào thể loại phim ma, hay có yếu tố tâm linh, và đều là các tác phẩm đến từ Đông Á. Cùng đua tài với Trăng Nơi Đáy Giếng còn có một số bộ phim kinh dị đáng chú ý khác như Art of Devil 3, The Coffin (đều của Thái Lan), Forbidden Door (Indonesia), Nightmare Detective 2 (Nhật Bản), The Pot (Hàn Quốc), Yes, I Can See Dead People (Hồng Kông), Rule #1 (Singapore) …

 

Trong suốt những ngày tham dự LHP Rotterdam, người viết luôn sống trong một môi trường Điện ảnh thực thụ. Thức dậy vào sáng sớm (tại Rotterdam vào thời gian này rất âm u và lạnh), để đi bộ tới các rạp chiếu phim. Điều thuận lợi là các hệ thống rạp như Cinerama, Pathé, Venster, Zaal de Unie có địa điểm khá gần nhau, chỉ mất khoảng 5 đến 10 phút đi bộ từ trụ sở chính của LHP tại De Doelen là tới nơi. Xem phim cả ngày (suất chiếu sớm nhất vào lúc 9h30) cho đến tận đêm khuya, đan xen là những cuộc trò chuyện, gặp mặt đoàn làm phim, hay các cuộc triển lãm nghệ thuật. Đặc biệt cứ vào 18h hàng ngày, chương trình talkshow có tên gọi Headquarters được diễn ra tại De Rotterdamse Schouwburg. Nhiều chủ đề về chương trình phim đã được đưa ra bàn luận như Điện ảnh trẻ của Thổ Nhĩ Kỳ, Hungry Ghosts, phim đầu tay của các đạo diễn nổi tiếng.

 

Trụ sở chính của LHP được đóng tại De Doelen với bốn tầng luôn náo nhiệt ồn ào. Nếu như tầng 3 là quán Bar, nơi tổ chức tiệc đêm, tầng 4 là khu dành riêng cho văn phòng, bàn tiếp tân đón nhà báo, khách mời, và là nơi nơi phỏng vấn, thì tầng 1 luôn chật cứng những người yêu điện ảnh. Khán giả xếp hàng dài dằng dặc để đăng ký nhận vé xem những buổi chiếu phim công cộng. Poster phim, tờ chương trình, báo ngày, tờ giới thiệu được bầy ở mọi nơi và phát hoàn toàn miễn phí. Người xem có thể dễ dàng cập nhật những sự kiện diễn ra trong ngày, lịch chiếu tại tất cả các rạp. Khán giả tới tham dự LHP đều là những người yêu thích điện ảnh thực sự, họ không bao giờ bỏ phí một tấm vé đã đăng ký, và ngồi đến tận phút cuối cùng cho dù không phải bộ phim nào cũng dễ xem. Hệ thống rạp Pathé, nơi dành cho chiếu công cộng, với 7 phòng chiếu lớn nhỏ luôn chật cứng khán giả. Tại một số rạp khác như Cinerama, Venster, Doelen ban tổ chức bố trí các phòng chiếu riêng cho nhà báo và khách mời đặc biệt.

 

Do chương trình chiếu phim tại LHP Rotterdam có rất nhiều hạng mục, nhiều chủ đề khác nhau nên người viết không có điều kiện để thưởng thức đầy đủ các bộ phim tham dự. Tác phẩm đầu tiên mà tôi được xem là Pandora’s Box (hạng mục Điện ảnh trẻ Thổ Nhĩ Kỳ). Bộ phim được xây dựng khá chân thật và xúc động về cuộc sống của một gia đình Thổ Nhĩ Kỳ thời hiện đại. Sau khi biết tin người mẹ mất tích trong rừng sâu, ba người con Nesrin, Mehmet và Guzin trở lại quê cũ để nhờ người giúp đỡ. Do cụ Nusret bị mắc bệnh Alzheimer (thoái hoá não) nên họ quyết định đưa bà lên Istanbul sinh sống.. Mỗi người con lại có một hoàn cảnh gia đình khác nhau, lối sinh hoạt khác nhau nên việc trông nom một người mất trí nhớ như cụ Nurset là điều không tưởng. Khi mọi việc đang đi vào bế tắc, thậm chí dẫn đến khủng hoảng gia đình thì người cháu trai Murat lại tìm được sự hoà hợp với bà ngoại. Cậu tìm thấy niềm vui trong việc chăm sóc bà, điều mà những người lớn bấy lâu nay không làm được.

 

Trong khi Pandora’s Box để lại cho khán giả nhiều cảm xúc với những tình huống đời thường về gia đình thì Trăng nơi đáy giếng của đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn lại gây ấn tượng mạnh qua phần quay phim. Bối cảnh ít nhưng được xây dựng cầu kỳ, nội dung không quá phức tạp nhưng những yếu tố tâm linh trong kịch bản lại khiến người xem khó quên, nhân vật không nhiều nhưng tính cách được khai thác sâu. Mặc dù cá nhân tôi không thích Trăng nơi đáy giếng, nhưng cũng không thể phủ nhận phần quay phim (đạo diễn hình ảnh Trinh Hoan) được thực hiện rất tốt. Camera luôn giữ một khoảng cách với nhân vật Hạnh (Hồng Ánh), cộng với nhịp phim đều đều, chậm rãi khiến cho Trăng nơi đáy giếng có một “chất” rất riêng biệt. Hi vọng trong thời gian tới, bộ phim sẽ được phát hành rộng rãi tại các hệ thống rạp trên khắp toàn quốc. Cho dù bạn có thích hay không thích nội dung phim, nhưng có một điều chắc chắn rằng Trăng nơi đáy giếng sẽ để lại trong lòng khán giả sự vương vấn khó tả, một cảm xúc rất riêng, như chính những con người xứ Huế trong phim vậy.

 

Ngoài Pandora’s Box và Trăng nơi đáy giếng, tôi còn có cơ hội thưởng thức Il Divo của Italy (hạng mục Spectrum), Schattenwelt của Đức (Spectrum), El Árbol của Maxico (Bright Future), Susuk của Malaysia, Liverpool của Tây Ban Nha, Rule #1 của Singapore, À l’ouest de Pluton của Pháp… cùng các buổi chiếu phim ngắn khác.

 

Cho dù nhiệt độ ngoài trời có lúc xuống tới 2,3 độ C, mưa liên tục từ sáng tới đêm, nhưng những ngày tham dự LHP Rotterdam là khoảng thời gian đặc biệt trong tôi. Tôi sẽ nhớ mãi buổi tối lạnh cóng đứng một mình tại cửa rạp Venster, nhâm nhi cốc bia Heineken đặc trưng hương vị Hà Lan.

March 19, 2009

Iron man – Người sắt (2008)

Filed under: Cinema — phuongcobain @ 9:47 pm

Đạo diễn: Jon Favreau

Diễn viên: Gwyneth Paltrow, Robert Downey Jr, Terrence Howard

Thể loại: Hành động / Giả tưởng / Phiêu lưu / Hài / Rùng rợn 

 

ironman-7-963434Trong khoảng 7 năm trở lại đây, làn sóng chuyển thể các tác phẩm truyện tranh nổi tiếng lên màn ảnh rộng ngày càng lan rộng. Kho truyện tranh với những người anh hùng có khả năng đặc biệt siêu phàm đã quá quen thuộc với độc giả từ mấy chục năm qua. Đây chính là nguồn đề tài phong phú để các nhà làm phim khai thác. Mở đầu cho xu thế này chính là thành công của X-men và Spider-man vào đầu thế kỷ 20. Tiếp sau đó là một loạt các tác phẩm ăn khách khác như Batman Begins, Sin City, Hellboy, Fantastic Four, Constantine, Superman Returns…

 

Trong năm 2008, có ít nhất 5 bộ phim cũng được chuyển thể từ các tác phẩm truyện tranh được ra mắt gồm The Dark Knight, Hellboy 2: the Golden Army, The Incredible Hulk, Get Smart và đặc biệt là Iron man – tác phẩm bom tấn mở màn cho mùa phim hè năm nay. Với kinh phí lên tới 186 triệu $, bộ phim đã được trình chiếu tại Mỹ vào ngày 2/5 vừa qua, và thu được những khoản lợi nhuận khổng lồ. Ngay dịp cuối tuần đầu tiên, Iron man đã mang về cho hãng Paramount 100,8 triệu $, qua đó đứng thứ hai trong danh sách những bộ phim không phải phần tiếp theo thu được nhiều tiền nhất chỉ sau ba ngày.

 

Nội dung kể về Tony Stark, tỷ phú và là thiên tài trong ngành chế tạo vũ khí của tập đoàn Stark Industries. Sau một lần sang Afghanistan làm việc, anh may mắn sống sót trong vụ nổ mìn kinh hoàng tuy tim bị trọng thương nặng. Tony bị lực lượng nổi dậy tại đây bắt ép chế tạo cho chúng một loại vũ khí có sức mạnh khủng khiếp để chống lại kẻ thù. Với hi vọng tồn tại và trốn thoát về Mỹ, thay vì chế tạo tên lửa huỷ diệt, Tony đã sáng chế ra một bộ giáp đạn bắn không xuyên, rồi tiêu diệt luôn đám quân nổi dậy này.

Tất nhiên nội dung không thể đơn giản như vậy, vì đối thủ chính của Iron man ở Mỹ chứ không phải mấy tên lính tại Afghanistan. Quay trở về tổ quốc, được sự giúp đỡ của người trợ lỳ Pepper (Gwyneth Paltrow), Tony nâng cấp bộ áo giáp này lên một mức cao hơn. Giờ đây ngoài một sức mạnh khủng khiếp, Iron man còn có thể bay trên trời gấp hai lần vận tốc âm thanh.  

 

Không giống như những bộ phim về Superhero trước đây như Daredevil, Ghost Raider, Hellboy, X-men… nhân vật Tony Stark trong Iron man mang nhiều nét gần gũi với con người bình thường hơn. Anh cũng từng làm những điều sai trái, cũng từng nghiện rượu, là tay chơi trác táng, sau đó phải đấu tranh tâm lý để vượt qua chính mình. Bản thân diễn viên vào vai Iron man là Robert Downey Jr cũng không thuộc dạng đẹp trai, thân hình cơ bắp lý tưởng như những Superhero khác. Chính điều này khiến cho Iron man nhận được nhiều cảm tình từ phía khán giả thay vì cảm thấy xa vời thực tế.

 

Điểm làm nên sự khác biệt nữa đó là kịch bản của Iron man chứa đựng nhiều chi tiết hài hước, tạo cảm giác thoải mái trong suốt hơn hai tiếng đồng hồ. Đây không phải là tác phẩm Action thuần tuý, mà còn tập trung khai thác yếu tố tâm lý của nhân vật. Chính vì vậy, việc các nhà làm phim thêm vào các tình huống dí dỏm khiến người xem không bị căng thẳng, đau đầu đến phát ngán.   

 

Dựa trên bộ truyện tranh cùng tên của hai tác giả Stan Lee và Jack Kirby (bộ đôi đã sáng tác ra X-men, Spider-man, Fantastic Four), Iron Man là siêu phẩm giải trí không thể bỏ qua trong hè năm nay. Nếu để ý kỹ khi xem phim, ta có thể dễ dàng nhận ra Stan Lee cũng xuất hiện thoáng qua, điều thường thấy trong các phim dựa trên những bộ truyện tranh của ông.

Buddy-Cop

Filed under: Cinema — phuongcobain @ 1:50 pm

Buddy Cop (Đôi bạn cảnh sát) luôn là một đề tài được các hãng phim lớn tại Mỹ dành một sự quan tâm đặc biệt trong suốt một phần tư thế kỷ trở lại đây. Cứ khoảng hai năm,  họ, những nhà làm phim ở Hollywood, vẫn thường cho ra đời một tác phẩm có đề tài thuộc dạng này. Những bộ phim Buddy-cop thường có nội dung về hai nhân viên cảnh sát cùng chung sức nhau để chống lại tội phạm theo những cách khác nhau. Môtíp của của chúng không đa dạng nhưng vẫn đủ sức hấp dẫn khán giả. Quanh đi quẩn lại vẫn chỉ xoay quanh những nội dung như sau: một cảnh sát tốt hợp tác với một cảnh sát hai mang, giao du với đủ loại người (như trong Training Day), hoặc đôi bạn phối hợp ăn ý bổ sung cho nhau (như trong bộ bốn phim Lethal Weapon; Bad Boys), và gần đây là môtíp cả hai cảnh sát đều là những ngôi sao phim hài cùng  góp mặt (trong Rush Hour 1,2; Starsky & Hutch). Vì tập trung vào bộ đôi cảnh sát, nên tính cách và hình tượng của nhân vật rất quan trọng. Nếu như nhân vật không gây được ấn tượng mạnh thì coi như bộ phim đó vứt đi. Nhưng đó chỉ là cái nền để xây dựng mạch phim, còn những diễn biến bên trong vẫn khiến khán giả hài lòng.

 

MVC.1-SHEET.3F

 

Không có gì đáng ngạc nhiên khi trong năm 2006 này, chúng ta lại có dịp được thưởng thức một tác phẩm mới có đề tài về Buddy-cop. Cuối tháng 7 vừa qua, hãng Universal đã tung ra siêu phẩm rất được chờ đợi: Miami Vice. Với một bộ sậu làm phim thượng thặng gồm: đạo diễn Michael Mann (từng làm Collateral, Ali), cùng hai nam diễn viên đang rất nổi Colin Farell và Jamie Fox (đoạt Oscar nam diễn viên chính xuất sắc nhất trong Ray), ngoài ra còn có sự góp mặt của nữ diễn viên người Trung Quốc Củng Lợi. Ngay lập tức Miami Vice đã qua mặt “quả bom tấn” Pirates of the Caribbean: Dead man’s Chest để nhẩy lên xếp thứ nhất trong bảng xếp hạng những bộ phim ăn khách nhất tại Bắc Mỹ ngay trong tuần công chiếu đầu tiên. Miami Vice là tác phẩm được dựng lại từ series phim truyền hình rất ăn khách vào thập kỷ 80 của thế ký trước. Nội dung kể về hai cảnh sát James Crockett và Ricardo Tubbs chiến đầu để chống lại thế giới tội phạm buôn bán và vận chuyển ma tuý ngầm tại Miami. So với bản phim truyền hình, thì tác phẩm phim truyện về bộ đôi cảnh sát (buddy-cop) này tăm tối hơn, và nặng nề hơn hẳn.

 

Trước khi Miami Vice được tung ra thì cũng đã có rất nhiều tác phẩm điện ảnh lấy đề tài Buddy-cop, tất nhiên đi kèm với chúng là rất nhiều thành công về doanh thu, cũng như mang lại tên tuổi cho các diễn viên góp mặt. Đầu tiên phải kể đến bộ phim kinh điển The French Connection của đạo diễn William Friedkin được làm vào năm 1971. Jimmy Doyle (Gene Hackman đóng) là một thám tử phân biệt chủng tộc cùng hợp tác với Russo, người không muốn đi vào con đường lầm lạc. Nhưng khi Jimmy lỡ giết chết một nhân viên khác thì mọi chuyện đã thay đổi. Với vai Jimmy này mà nam diễn viên Gene Hackman đã đoạt giải nam diễn viên chính xuất sắc nhất vào năm 1972. Đây là trường hợp hiếm có khi mà một bộ phim về đề tài đôi bạn cảnh sát đoạt giải Oscar cho hạng mục phim hay nhất. Trước đó vào năm 1968, In the heat of the Night cũng đã đoạt 5 giải Oscar, trong đó có cả phim hay nhất. Tất cả những tác phẩm có cùng đề tài sau này đều không lặp lại được chiến tích của In the heat of the NightThe French Connection.

 

Bù lại cho việc không đoạt nhiều giải thưởng lớn, thì chúng lại rất thành công trong doanh thu. Thậm chí nhiều phim trong số đó đã được xây dựng phần 2, 3, cá biệt lên tới 4 phần như Lethal Weapon của nam diễn viên Mel Gibson. Lấy ví dụ điển hình là trường hợp của  Rush Hour. Phần 1 làm năm 1998, với sự tham gia của ngôi sao Thành Long và nam diễn viên da mầu Chris Tucker đã thu về hơn 141 riệu $ doanh thu tiền bán vé đã khiến cho các nhà sản xuất tiếp tục tung ra phần 2 vào năm 2001. Và bộ đôi cảnh sát Jackie Chan/Chris Tucker lại thu về 226 triệu $ cho hãng sản xuất New line Cinema. Quả là một món đầu tư hời mang lại nhiều hiệu quả. Phần 3 của Rush Hour sẽ được phát hành vào năm 2007 vẫn với “đội hình” cũ (đạo diễn Brett Ratner).

 

Một nguyên nhân dẫn đến thành công của thể loại phim này là vì nó nghiễm nhiên có từ một đến hai ngôi sao cùng xuất hiện trong phim. Khán giả tò mò muốn xem các diễn viên lớn sẽ tranh tài ra sao. Nếu như Training Day mời được Denzel Washington (đoạt Oscar nam diễn viên chính trong vai cảnh sát Alonzo) và Ethan Hawke, thì Bad Boys 2 lại có Will Smith, một cái tên luôn đảm bảo doanh thu, và Martin Lawrence. Hiện nay hầu hết phim buddy-cop đều được xây dựng theo phong cách hành động hài. Hai cảnh sát có tính cách khác hẳn nhau cùng được phân công công tác phá một vụ án. Từ đó dẫn đến những tình huống hài hước. Bad boys, Rush HourStarsky & Hutch đều có một có một công thức làm phim chung như vậy. Sau khi đã phát triển được gần 40 năm nay, chắc chắn trong tương lại, thể loại phim Buddy-cop vẫn sẽ được các nhà làm phim tại Mỹ tập trung khai thác.

 

 

9 bộ phim hay có đề tài về Buddy Cop

 

1 – Lethal Weapon (1987)

Đạo diễn: Richard Donner

Diễn viên: Mel Gibson, Danny Glover

Điểm nổi bật: Martin Riggs (Mel Gibson đóng) là một nhân vật đặc biệt, mái tóc hoang dại, luôn trong tình trạng đau khổ, không còn quan tâm đến chính mạng sống của mình kể từ sau khi người vợ của anh chết trong một tai nạn giao thông. Cùng với Roger (Danny Glover), họ tạo thành một cặp bài trùng ăn ý tiêu diệt tội phạm buôn bán ma tuý, rượt đuổi bằng xe hơi, chiến đấu với máy bay trực thăng, và giải cứu con gái của Roger bị bắt cóc…

 

2 – 48 HRS (1982)

Đạo diễn: Walter Hill

Diễn viên: Nick Nolte, Eddie Murphy

Điểm nổi bật: Đôi khi, mỗi một diễn viên trở thành ngôi sao chỉ nhờ vào một cảnh phim đáng nhớ. Như hình ảnh Jack Nicholson đội chiếc mũ bảo hiểm của dân bóng bầu dục ngồi sau chiếc xe máy trong bộ phim Easy Rider, hay hình ảnh Faye Dunaway ngái ngủ nhìn Warren Beatty qua cửa sổ trong phim Bonnie and Clyde đều đã trở thành huyền thoại. Đối với nam diễn viên Eddie Murphy trong phim này cũng vậy. Chính nhờ vai Reggie mà Eddie đã từ một diễn viên vô danh trơ thành một nhân vật có tên tuổi ở Hollywood.

 

3 – Rush hour (1998)

Đạo diễn: Brett Ratner

Diễn viên: Thành Long, Chris Tucker

Điểm nổi bật: lần đầu tiên nam diễn viên Thành Long đóng trong một bộ phim do Mỹ sản xuất. Và dĩ nhiên Rush Hour được xây dựng theo lối hành động, võ thuật, hài, một đặc sản của Thành Long. Không có gì ngạc nhiên khi khán giả Mỹ rất thích thú khi xem bộ phim này, đặc biệt là lối diễn xuất bổ trợ cho nhau của bộ đôi Thành Long/Chris Tucker. Sang năm 2007, Rush Hour sẽ trở thành một Trilogy (bộ ba phần), khi phần 3 được trình chiếu.

 

4 – Se7en (1995)

Đạo diễn: David Fincher

Diễn viên: Brad Pitt, Morgan Freeman

Điểm nổi bật: Một kết thúc gây shock, có thể làm dựng tóc gáy ngay cả những khán giả khó tính nhất. Bộ đôi cảnh sát trong Seven là một già một trẻ: Somerset (Morgan Freeman), và Mills (Brad Pitt). Họ cùng điều tra về vụ án của một tên giết người hàng loạt với nạn nhận là những người đã phạm phải một trong bẩy tội lỗi của con người. Bối cảnh trong cả chiều dài bộ phim là những ngày mưa tầm tã ở New York, nhưng trường đoạn cuối lại là một ngày nắng đẹp…

 

5 – Bad boys (1995)

Đạo diễn: Michael Bay

Diễn viên: Will Smith, Martin Lawrence

Điểm nổi bật: cả hai nhân vật chính trong phim nói nhanh, nói nhiều. Thoại liên tục từ đầu tới cuối, hiếm khi lúc nào ngưng, tất nhiên trừ những pha hành động hấp dẫn ra. Hai cảnh sát trong phim đều được đóng bởi hai diễn viên da mầu (Will Smith và Martin Lawrence), và chính lối diễn xuất ăn ý của họ đã tạo nên một sắc thái rất riêng cho Bad Boys trong thể loại phim buddy-cop. Phần hai đã được ra mắt vào năm 2003, vẫn giữ được phong cách nói nhiều này.

 

6 – Training Day (2001)

Đạo diễn:

Diễn viên: Denzel Washington, Ethan Hawke

Điểm nổi bật: Câu chuyện chỉ diễn ra trong vòng đúng một ngày, và đây cũng là ngày tuần tra đầu tiên của anh lính mới (Ethan Hawke) với người cộng sự nhiều kinh nghiệm Alonzo (Denzel Washington). Mặc dù là một cảnh sát, nhưng Alonzo lại có những mối quan hệ mật thiết với các tổ chức ngầm của thành phố Los Angeles. Vai cảnh sát hai mang Alonzo là một vai rất khó, nhưng Denzel đã hoàn thành xuất sắc, và rất xứng đáng nhận giải Oscar nam diễn viên xuất sắc nhất năm 2002.

 

7 – Starsky & Hutch (2004)

Đạo diễn:

Diễn viên: Owen Willson, Ben Stiller, Vince Vaughn

Điểm nổi bật: Tập trung một loạt ngôi sao hài mới nổi, Starsky & Hutch là bộ phim buddy-cop được dựa trên series phim cùng tên vào thập kỷ 70, mặc dù vậy tác phẩm điện ảnh này lại xây dựng theo phong cách hài lố. Bộ đôi cảnh sát Hutch (Owen Willson) và Starsky (Ben Stiller) khác nhau về tính cách nhưng cuối cùng đã cộng tác ăn ý với nhau. Phim còn tập trung nhiều ngôi sao ca nhạc, người mẫu nổi tiếng.

 

8 – Black Rain (1989)

Đạo diễn: Ridley Scott

Diễn viên: Michael Douglas, Andy Garcia

Điểm nổi bật: Hai cảnh sát New York đến Nhật Bản để điều tra về một giết người, tiền giả và bị dính lứu đến cuộc chiến giữa các băng đảng Yakuza. Tại đây, để tồn tại và phá án, họ phải tuân theo những luật chơi… Phim được xây dựng tăm tối, gây ấn tượng cho khán giả, đặc biệt là trường đoạn nhân vật thanh tra Charlie (Andy Garcia) bị một băng đảng Yakuza thanh toán ngay trước mắt đồng đội Nick (Michael Douglas).

 

9 – Freebie and the Bean (1974)

Đạo diễn: Richard Rush

Diễn viên: James Cann, Alan Arkin

Điểm nổi bật: Freebie (James Cann) và Bean (Alan Arkin) là hai cảnh sát ở San Francisco, đều có một mong ước muốn với tới trong sự nghiệp là bắt được tên tội phạm Red Meyers. Với những vấn đề được đặt ra và xử lý chúng trong phim như: phân biệt chủng tộc, hài hước trong tình dục không còn hợp thời so với ngày nay. Những bộ phim hiện đại có những khía cạnh trên sẽ tiếp cận theo một hướng hoàn toàn khác.

 

(ĐAKT – 2006)

Next Page »

Blog at WordPress.com.